admin's picture

HƯƠNG ÁN ĐÁ CHÙA KHÁM LẠNG - VĂN VẬT ĐẠI DIỆN CHO THỜI ĐẠI HUY HOÀNG

        Quê hương Lục Nam hôm nay vốn là miền đất “Phật thiêng” dưới thời Lý - Trần. Những phát hiện khảo cổ học tại chùa Cao (xã Khám Lạng), chùa Nhạn Tháp (xã Tiên Nha), chùa Đám Trì (Lục Sơn)… cho thấy từ thời Lý (thế kỷ XI -XIII) Lục Nam đã là một trong những trung tâm Phật giáo của nước Đại Việt. Những danh lam cổ tự với sự đầu tư xây dựng của vương triều Lý ở sườn Tây Yên Tử là cơ sở, mạch nguồn để các Đại thiền sư thời Trần kế tục phát triển, mở mang sơn phận thành kinh đô Phật giáo Đại Việt, mà dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử được xem như cốt cách của Phật giáo Đại Việt thời bấy giờ.

         Nếu Đông Triều của xứ Đông xưa là nội đô của kinh đô Phật phái Trúc Lâm thời Trần bên sườn Tây Yên Tử, thì miền đất Na Ngạn - Lục Na (Lục Nam ngày nay) là nội đô của sườn bên Tây thuộc xứ Bắc, với sự góp mặt của nhiều đại danh lam cổ tự như: chùa Khám Lạng (thời Trần mang tên Khám Lãng), chùa Sơn Tháp (Cẩm Lý), Mã Yên (Bắc Lũng), Bát Nhã (Huyền Sơn), Hồ Bấc (Nghĩa Phương). Khi Phật phái Trúc Lâm rơi vào cảnh huống suy vi ở nửa cuối thế kỷ XIV và còn tiếp tục suy vi đến giữa thế kỷ XVII thì kinh đô Phật giáo Trúc Lâm cũng bị suy tàn. Cuối thế kỷ XVII, chính các Thiền sư dòng Lâm Tế có công lao hưng thịnh Phật phái Trúc Lâm, mà công đầu có thể kể đến là Thiền sư Tuệ Đăng (hay Chân Nguyên thiền sư).

       Chùa Khám Lạng được xây dựng từ thời Lý - Trần, được tu sửa nhiều lần dưới thời Lê, Nguyễn và những năm gần đây. Thời Trần, chùa Khám Lạng là một Thiền viện của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, chốn tùng lâm danh tiếng ở xứ Bắc.

        Xưa nay, các nhà nghiên cứu những tưởng thời kỳ suy vi của dòng thiền Trúc Lâm chẳng để lại gì bằng vật chất cho hậu thế, nhưng gần đây, với sự phát hiện các văn vật đá ở chùa Khám Lạng (Lục Nam), một khoảng trống vắng về tư tưởng, nghệ thuật điêu khắc dân gian trong kiến trúc Phật giáo Đại Việt thời kỳ này đã được bổ khuyết. Bộ sưu tập các văn vật quý ở chùa Khám Lạng bao gồm: Hương án đá, bệ tượng đá và một số chân tảng, bậc thềm đá đều là tác phẩm điêu khắc nghệ thuật được tạo tác thời Lê Sơ (thế kỷ XV). Trong đó, hiện vật có giá trị tiêu biểu nhất là Hương án đá được tạo tác thời Lê sơ (năm 1432), một loại hình hiện vật mang tính đặc trưng có ở các ngôi chùa thờ Phật dưới thời Trần và tiếp tục được phát huy dưới thời Lê sơ - Mạc.

        Nhìn tổng thể, Hương án đá thời Lê Sơ chùa Khám Lạng (sau đây gọi tắt là Hương án) được tạo tác thành thể khối chữ nhật, hình đài sen.

Chiều dài chân đế Hương án 309cm, chiều rộng đế 137cm;

Chiều dài mặt Hương án 288,5cm, chiều rộng mặt 118cm;

Chiều cao từ chân đế đến mặt Hương án: 114cm.

       Hương án được các nghệ nhân dân gian chạm khắc cầu kỳ và cơ bản tôn trọng luật đăng đối giữa mặt trước, mặt sau và hồi trái, hồi phải theo phong cách truyền thống. Hương án được chia làm 3 tầng: Mặt Hương án, thân Hương án và đế Hương án. Ba tầng liên kết với nhau tạo thành một đài sen hoàn chỉnh.

        Tầng mặt Hương án được liên kết bởi 7 phiến đá xanh không đều nhau ghép lại. Bề mặt Hương án được tạo tác thành mặt phẳng hình chữ nhật, đục thô lấy mặt phẳng, không đánh bóng.

        Xung quanh tầng mặt Hương án chạm khắc ba tầng cánh sen dày 21,5 cm, gồm hai tầng sen lộ và một tầng trên cùng chỉ lộ chóp cánh sen. Ba lớp cánh sen đan chéo, so le, chồng lên nhau thành dải băng hoa văn với ba tầng sen được sử dụng kỹ thuật đục, tỉa, đánh bóng công phu, cầu kỳ.

         Đăng đối 2 mặt trước và mặt sau mỗi lớp dưới có 15 cánh sen, lớp trên có 16 cánh sen. Hai mặt bên (hồi) cũng dùng thủ pháp đăng đối, lớp dưới có 6 cánh, lớp giữa có 7 cánh sen, lớp trên lộ 6 đầu mút cánh sen.

       Các cánh sen chạm tương đối giống nhau, trong mỗi cánh có chạm văn hình móc mây nổi tầng, nổi khối. Ở phần giữa đỉnh mỗi cánh sen chạm các chấm tròn với 9 hạt minh châu nổi khối được sắp xếp thành hình chữ thập. Lớp cánh sen lộ diện, chạm nổi trên mỗi cánh sen 13 hạt bố cục đăng đối trông như hình hoa cúc.

         Tầng thân Hương án: là phần thắt lại giữa tầng mặt và tầng đế Hương án, gồm 3 thớt đá xếp chồng lên nhau. (xem bản vẽ số 03).

        Thớt đá thứ nhất (từ trên xuống) có 10 phiến đá ghép liền, chia thành 3 lớp. Lớp trên chạm nổi hình hoa văn sóng nước chạy dài, trải đều theo thớt đá; lớp thứ hai để trơn khối vuông; lớp thứ ba để trơn nhưng vê tròn, mài nhẵn.

         Thớt đá thứ hai có 6 phiến đá ghép liền nhau, và được bổ ô với các khuông hình chữ nhật.

        Mặt trước, mặt sau đăng đối có 3 khuông chữ nhật nằm ngang được nghệ nhân chạm khắc 6 bức phù điêu hình rồng cuộn và có điểm xuyết hình hoa cúc cách điệu.

        Hai mặt bên đầu hồi tạc mỗi đầu một con rồng, tất cả 8 con rồng được tạo dáng ở các tư thế khác nhau, nhưng tư tưởng chủ đạo vẫn thể hiện tinh thần khoan thai, lạc quan...

       Đồ án rồng trên phù điêu cơ bản có dáng giống như rồng yên ngựa thân uốn cong nhiều khúc. Hai rồng mặt bên đầu hồi có kiểu dáng hơi  khác: phần đầu ngóc về phía sau nằm dưới thân, chân rõ cả 4 móng, phần bờm chạy dọc theo thân có các lỗ khoan thủ công. Rồng đang trong thế uốn mình rất hiền, biểu cảm sự viên mãn và thanh bình.

        Lớp thứ 3 gồm 8 phiến đá ghép lại, nửa phần trên chạm dải hoa văn hình sóng nước trải đều, ẩn trong đó là các lớp cánh sen âm mở. Nửa phần dưới tạo các đường gờ chỉ nổi chạy thẳng. Các thớt đá được vê tròn cạnh xen lẫn các gờ nổi tạo hình cân đối. Phần vê tròn tạc nổi các cánh sen âm mở xuống, khổ lớn.

        Tầng chân đế: Gồm hai thớt đá xếp chồng lên nhau, gồm thớt đá trải nền và phần bệ đỡ.

         Thớt trải nền do 16 phiến đá không đều nhau ghép liền khối chữ nhật có kích thước: dài 309cm, rộng 137cm, cao 9,5cm.

        Thớt chân đế do 10 phiến đá không đều nhau ghép lại, bề mặt chạm nổi hình vân mây tản, phối trí cụm vân mây điểm ở ba vị trí giữa và hai góc chân đế. Giữa các cạnh tạo đường gờ nổi chạy thẳng.

        Hương án chùa Khám Lạng được các nghệ nhân dân gian xưa đã sử dụng liên hoàn các kỹ thuật thô sơ trong quá trình chế tác nhưng đã đạt trình độ tinh xảo như: Kỹ thuật ghè đẽo, cưa, mài, khoan, đục và đánh bóng mà ta gặp ở thời Lý - Trần và đã manh nha xuất hiện kỹ thuật đục kênh, bong được các nghệ nhân dân gia thời kỳ sau hay dùng.  

        Trên bức hồi bên phải, ở phần thân Hương án có khắc 16 chữ Hán, nét chữ chân phương, rõ nét cho biết thời gian tạo tác và người công đức để tạo ra Hương án chùa Khám Lạng -       .     ,          ,     /Thuận Thiên ngũ niên. Nhâm tí niên, Khám xã, hạ phẩm Lưu Câu, thê Đỗ Xú. [Nghĩa là: Ông Lưu Câu người có phẩm hàm bậc thấp ở xã Khám Lạng  và vợ là Đỗ Xú công đức chiếc hương án này vào năm Nhâm tí, niên hiệu Thuận Thiên thứ 5 (1432)].

        Đến nay, sau gần sáu trăm năm tồn tại, Hương án vẫn được bảo quản tốt và giữ được gần như nguyên vẹn. Đó là một cổ vật tiêu biểu, đặc sắc nhất trên các di tích lịch sử văn hóa ở tỉnh Bắc Giang. Có thể nói hương án đá chùa Khám Lạng là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, điển hình chứa đựng nhiều thông điệp về giá trị lịch sử văn hóa, mỹ thuật truyền thống của dân tộc ở thời Lê Sơ. Nó được xem như là bảo vật quý không chỉ của tỉnh Bắc Giang mà còn là bảo vật quý của quốc gia

        Thực hiện Công văn số 183/DSVH - DT ngày 27 tháng 3 năm 2014 của Cục Di sản (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) về việc lựa chọn hiện vật để xây dựng hồ sơ đề nghị công nhận Bảo vật Quốc gia (đợt 3), Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Lục Nam và Ban Quản lý di tích tỉnh và đã tham mưu, đề xuất với Giám đốc Sở VHTTDL cho phép thiết lập hồ sơ khoa học trình Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia đề nghị Thủ tướng Chính phủ công nhận bảo vật Quốc gia cho Hương án đá thời Lê Sơ chùa Khám Lạng.

         Lý do để lựa chọn hiện vật được căn cứ trên các cơ sở khoa học và thực tiễn sau:

        Thứ nhất, xuất phát tự giá trị nội tại của hiện vật. Hương án là một cổ vật được tạo tác cách đây gần 600 năm (1432 - 2014), hiện vật được nghệ nhân dân gian xưa tạo tác thành tòa sen, một tác phẩm điêu khắc đá hoàn chỉnh có giá trị cao về lịch sử văn hóa, nghệ thuật và giá trị kinh tế.

        Thứ hai, Hương án chùa Khám Lạng là hiện vật gốc, độc bản, được bảo quản tốt nên đảm bảo tính toàn vẹn. Hiện vật này từ khi được tạo tác đến nay vẫn được sử dụng làm nơi đặt lễ phẩm, hương hoa cúng Phật ở chùa Khám Lạng. Hơn nữa, minh văn trên hương án đã chỉ rõ hiện vật là của chùa Khám Lạng, và từ đó đến nay không có sự thay đổi hay dịch chuyển nên đảm bảo tính xác thực.

       Thứ ba, Hương án là loại hình hiện vật mang tính đặc trưng ở các ngôi chùa thờ Phật dưới thời Trần và tiếp tục được phát huy dưới thời Lê sơ - Mạc. Hiện trên cả nước đã phát hiện nhiều hương án đá thời Trần ở các địa phương khác, nhưng đến nay chưa phát hiện hương án đá nào thời Lê Sơ. Vì vậy Hương án đá chùa Khám Lạng là hiện vật, một tác phẩm điêu khắc đá nghệ thuật mang tính đại diện cho thời Lê Sơ ở nước ta. Đây là một thời đại huy hoàng, nổi tiếng là thời kỳ “vua sáng tôi hiền” trong lịch sử dân tộc. Sau khi đánh đuổi hết quân Minh, giải phóng đất nước, vương triều Lê chính thức được kiến lập (1428) và bắt đầu công việc xây dựng, phát triển nền văn hóa độc lập dân tộc. Ngoài tư tưởng Phật giáo qua các bức chạm hoa sen, hoa cúc còn thể hiện vị trí độc tôn của Nho giáo. Qua các đồ án trang trí rồng ở tư thế thư thái, lạc quan trên thân hương án, các nghệ nhân dân gian đã thể hiện sức mạnh vương quyền, đồng thời cũng muốn gửi gắm cho hậu thế một thông điệp về một đất nước yên ổn, thanh bình của một triều đại biết khoa thư sức dân để củng cố nền độc lập dân tộc.  

        Thứ tư, Hương án chùa Khám Lạng là cổ vật có giá trị trên nhiều lĩnh vực, cho nên địa phương thiết lập hồ sơ đề nghị Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia nhằm tôn vinh giá trị di sản văn hóa có giá trị tiêu biểu, qua đó nâng cao ý thức bảo vệ di sản của công chúng, đồng thời có cơ chế, chính sách phù hợp cho việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản trong thời gian tới./.

                                                                                        

                                                                      Đỗ Huỳnh Bộ

                                                         Phòng VH - TT huyện Lục Nam.