administrator's picture

Lịch sử phát triển

         

 

BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ HUYỆN LỤC NAM

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LỊCH SỬ

ĐẢNG BỘ HUYỆN LỤC NAM

(1930-1975)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BẮC GIANG, 1-2009

 

MỤC LỤC

 

 

Trang

Mở đầu: Lục Nam –Vùng đất con người và truyền thống lịch sử

4

1. Đặc điểm địa lý tự nhiên

4

2. Quá trình thay đổi về địa lý hành chính

6

3. Đặc điểm dân cư

9

4. Kinh tế

9

5. Đời sống văn hóa dân gian

11

Chương II: Quá trình hình thành cơ sở Đảng trên địa bàn Lục Nam và lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945

21

1. Chế độ cai trị hà khắc của thực dân Pháp và phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Lục Nam

21

2. Phong trào đấu tranh cách mạng cua rnhân dân Lục nam dưới sự lãnh đạo của Đảng

30

3. Chuẩn bị lực lượng, đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân trong Cách mạng tháng Tám năm 1945

34

Chương III: Củng cố và bảo vệ chính quyền cách mạng, tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp

(1945-1954)

59

1. Xây dựng lực lượng và bảo vệ chính quyền cách mạng (1945-1947)

59

2. Xây dựng lực lượng vũ trang, chuẩn bị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

66

3. Chống địch càn quét, bảo vệ hậu phương (1947- 1949)

70

4. Củng cố hậu phương, đẩy mạnh chiến tranh nhân dân (1950 đến 7- 1953)

85

5. Ra sức tiến công địch, tiến tới giải phóng quê hương ( tháng 7- 1953 đến 8- 1954)

113

Chương IV: Thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa phát triển kinh tế - xã hội (1954-1965)

123

1. Tiến hành xóa bỏ tàn tích chế độ phong kiến, khôi phục kinh tế sau chiến tranh (1954-1957)

123

2. Huyện Lục Nam thành lập, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất ban đầu của chủ nghĩa xã hội (1957-1965)

131

Chương V: Giữ vững và phát triển kinh tế - xã hội trong hoàn cảnh có chiến tranh, tham gia chiến đấu thắng lợi (1965-1972)

156

1. Chuyển hướng xây dựng và phát triển kinh tế; góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1965-1968)

156

Chương VI: Khôi phục và phát triển kinh tế, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, chi viện cho tiền tuyến, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1973 - 1975)

185

1. Đảng bộ lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hóa - giáo dục

187

2. Đảng bộ lãnh đạo giữ vững an ninh quốc phòng, chi viện sự nghiệp giải phóng miền Nam

195

Kết luận

198

 

 

 

 

 

 

 

 

Mở đầu

LỤC NAM – VÙNG ĐẤT

CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ

         

          1. Đặc điểm địa lý tự nhiên

Lục Nam là huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, phía Bắc giáp huyện Lục Ngạn, phía Tây Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Nam giáp hai tỉnh Quảng Ninh và Hải Hưng, phía Đông giáp huyện Sơn Động, phía Tây giáp hai huyện Lạng Giang và Yên Dũng.

Tổng diện tích tự nhiên: 59.858 héc ta; chia thành ba vùng: vùng núi, trung du và chiêm trũng. Diện tích đất nông nghiệp là 14.800 héc ta; diện tích rừng và đồi 31.170 héc ta.

Lục Nam nằm trong khu vực có lịch sử kiến tạo lâu dài và phức tạp. Phía Bắc huyện là vùng đồi núi trùng điệp kế tiếp với vòng cung Bắc Sơn, thoải dần về thung lũng sông Lục Nam. Dãy núi Bảo Đài hình cánh cung theo hướng Đông Bắc – Tây Nam bao bọc lấy phía Nam vòng cung Bắc Sơn, còn hầu hết đồi núi bị chia cắt thành sơn nguyên, hướng không rõ rệt. Địa hình: Núi Huyền Đinh còn gọi là ngàn Treo Đanh chạy dọc các xã Cẩm Lý, Đan Hội, thế núi cao liên tiếp. Dãy Trường Sơn thuộc xã Cẩm Lý, đoạn tiếp của Huyền Đinh. Phật Sơn thuộc Hổ Lao (Lục Sơn) thế núi cao vút bằng phẳng, phía đông có Liên Sơn (Vĩnh Ninh), phía Tây có Đỉnh Sơn (Áng Trì) là một đường quanh yếu. Chúng Sơn là đoạn tiếp của Phật Sơn, có ba mặt là núi (Thù Sơn, La Sơn, Độn Sơn), địa thế hiểm trở. Tuyệt đại bộ phận là núi thấp, có độ cao trên 400 mét, nhiều dải núi chỉ còn trên 100 mét. Ở phía Nam sông Lục Nam xuất hiện nhiều dãy núi thấp không có hướng rõ rệt.

Do địa hình nghiêng, nhiều rừng và đồi xen kẽ tạo ra nhiều vùng trũng nên Lục Nam có nhiều địa thế thuận lợi để xây dựng hồ đập chứa nước.

Sông Lục Nam, thời cổ, mang tên Minh Đức, được mệnh danh là một trường giang đẹp nhất Bắc Kỳ, phát nguyên từ Đình Lập (Lạng Sơn) và từ các khe núi Bảo Đài – Yên Tử, dòng sông dài 178 km. Các chi lưu là sông Cẩm Đàn, sông Thanh Luận, sông Bò. Lòng sông sâu nhưng dòng chảy êm ái, triền sông có nhiều bậc thoai thoải, bãi cát đôi bờ mướt bóng, các rặng tre tạo nên cảnh quan đẹp.

Do nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa vùng núi rừng Đông Bắc với trung du và đồng bằng Bắc Bộ nên khí hậu Lục Nam mang đầy đủ tính đa dạng của khí hậu nhiệt đới gió mùa phức hợp.

Đặc điểm thổ nhưỡng của Lục Nam rất đa dạng.

Đất đồi chua và nghèo dinh dưỡng. Thành phần cơ giới thịt nặng đến trung bình, một phần thịt nhẹ - cát pha. Đất ruộng gồm nhiều loại, nhóm đất lúa nước, có nguồn gốc Feralitích nằm tập trung ở hai vùng đồng mùa và miền núi. Có thành phần cơ giới cát pha thịt nhẹ, hơi chua, nghèo chất dinh dưỡng.

Nhóm đất lúa nước có nguồn gốc phù sa ở vùng đồng chiêm và một số xã đồng nhà. Có thành phần cơ giới cát pha - thịt nhẹ, ít chua.

Trong quá trình sản xuất, để tăng năng suất cây trồng, các thế hệ nhân dân Lục Nam phải thường xuyên đầu tư công sức cải tạo đất, giải độ chua; cải tạo tính chất vật lý của đất đồng thời nâng cao độ phì của đất bằng việc bổ sung hàm lượng các chất dinh dưỡng.

Là một huyện miền núi, diện tích đất lâm nghiệp lớn, giàu tiềm năng phát triển kinh tế rừng.

Trước đây, Lục Nam là vùng rừng rậm nhiệt đới. Thảm thực vật rừng khá đa dạng, nhiều cánh rừng nguyên sinh với hai  - ba tầng cây, tầng các loại cây to có nhiều loại gỗ quý như lim, sến, táu, dẻ; tầng thấp là cây bụi như tre, nứa, song, mây. Nhưng do khai thác gỗ chưa hợp lý, không có kế hoạch duy trì vốn rừng và bị tàn phá do đốt rừng để trồng trọt nên hầu hết chỉ còn là rừng tái sinh, cây gỗ lớn còn lại ít, phần lớn là gỗ tạp hoặc rừng tre, nứa xen gỗ tạp. Nhiều nơi chỉ có cây bụi hoặc sim, mua, ràng ràng, cỏ ranh, đồi núi trọc đất bị xói mòn. Rừng Lục Nam vốn là nơi cư trú của nhiều loài thú quý, nhưng do sự thu hẹp diện tích thảm thực vật rừng nên đã làm mất đi nơi trú ngụ của nhiều loài động vật.

Là huyện nằm ở cửa ngõ vùng Đông Bắc, chuyển tiếp giữa vùng ngược, vùng xuôi, có điều kiện giao thông đa dạng, Lục Nam có mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông tạo thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, văn hoá của các dân tộc trong vùng và giữa miền núi với vùng trung du và đồng bằng. Nhiều tuyến đường chạy qua Lục Nam có ý nghĩa chiến lược cả về kinh tế và quốc phòng. Hệ thống đường bộ hình thành từ nhiều phương tụ về Ngã tư Thân để toả đi các huớng. Quốc lộ 31 xuất phát từ thị xã Bắc Giang để nối với vùng mỏ Quảng Ninh. Tỉnh lộ Kép – Mai Sưu dài 52 kilômét, cùng hàng trăm kilômét đường liên huyện, liên xã hợp thành mạng lưới giao thông của huyện. Huyện có thể thông thương với vùng đồng bằng sông Hồng, trung du hoặc lên biên giới Việt – Trung thuận lợi.

Sông Lục Nam có ý nghĩa kinh tế lớn, là tuyến đường thủy chuyên chở hành khách và hàng hoá thuận tiện, do vậy thị trấn Lục Nam đã sớm trở thành một bến sông nhọn nhịp. Từ Lục Nam xuôi đến Phải Lại, Hải Dương, Hải Phòng, ngược lên Chũ hoặc xa hơn. Từ một bến sông tấp nập và đô hội đã hình thành thị trấn Lục Nam để rồi trở thành tên sông, tên tỉnh và tên huyện.

2. Quá trình thay đổi về địa lý hành chính

Nằm trên vùng chuyển tiếp giữa vùng miền núi Đông Bắc và trung du đồng bằng Bắc Bộ, có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế và an ninh quốc phòng, nơi diễn ra quá trình tụ cơ lâu dài, trong thời kỳ lịch sử cận hiện đại, vùng đất Lục Nam trải qua nhiều biến đổi về địa lý hành chính, chia tách cho đến khi thành lập huyện Lục Nam, tháng 1 năm 1957.

Thời ký phong kiến quốc gia độc lập, các làng xã trên địa bàn huyện Lục Nam ngày nay thuộc ba huyện của trấn Kinh Bắc là: Phượng Nhỡn, Lục Ngạn và Bảo Lộc.

Dưới thời Pháp thuộc, để dễ bề cai trị vùng đất có phong trào đấu tranh chống Pháp mạnh mẽ, địa bàn này có một số thay đổi về địa giới hành chính.

Ngày 5 - 11 - 1889, thực dân Pháp quyết định thành lập tỉnh Lục Nam, các làng xã của huyện thuộc tỉnh Lục Nam, tỉnh lỵ đóng ở thị trấn Lục Nam. Ngày 8 - 9 -1891, tỉnh Lục Nam giải thể, các huyện lại thuộc tỉnh Bắc Ninh.

Khi thành lập tỉnh Bắc Giang (10 - 10 - 1895), toàn khu vực này thuộc Bắc Giang trừ các tổng Trù Hựu, Kiên Lao, Hả Hộ và một số vùng thuộc Lục Ngạn nằm trong Đạo quan binh Yên Thế.

Tháng 2 – 1909 các tổng Biển Động, Niêm Sơn, Mỹ Nương, Kiên Lao, Hả Hộ từ huyện Lục Ngạn nhập vào huyện Sơn Động. Cùng thời gian này, cắt hai tổng Trù Hựu, Tam Dị từ huyện Bảo Lộc về Lục Ngạn.

Cắt các tổng Dĩnh Kế huyện Phượng Nhỡn,  sang huyện Bảo Lộc, tổng Trạm Điền về Chí Linh (Hải Dương). Sau đó, huyện Phượng Nhỡn bị giải thể, các tổng còn lại đưa vào Lục Ngạn. Huyện Bảo Lộc lúc này cũng đã đổi thành Lạng Giang.

Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954) địa bàn huyện cũng có nhiều thay đổi về địa giới hành chính

Tháng 3 – 1947, tỉnh Quảng Yên sáp nhập với đặc khu Hồng Gai và 4 huyện của tỉnh Hải Dương, 1 huyện của tỉnh Kiến An thành Liên tỉnh Quảng Hồng, huyện Sơn Động và một số xã của huyện Lục Ngạn nằm ở tả ngạn sông Lục Nam cũng nhập với huyện Hải Chi của tỉnh Hải Ninh thành châu Lục Sơn Hải. Đến tháng 9 - 1947, Lục Sơn Hải đưa vào Liên tỉnh Quảng Hồng. Đồng thời, Lục Ngạn đưa nhiều xã khác sang Lạng Giang, một số sáp nhập vào huyện Yên Dũng.

Ngày 26 - 12 – 1948, liên tỉnh Quảng Hồng lại tách ra thành tỉnh Quảng Yên và đặc khu Hồng Gai. Huyện Hải Chi cũng tách khỏi châu Lục Sơn Hải để trở về tỉnh Hải Ninh. Ba xã Cẩm Lý, Vũ Xá, Đan Hội của Sơn Động chuyển về huyện Chí Linh – lúc này Sơn Động và Chí Linh về Hải Dương (Cẩm Lý, Vũ Xá, Đan Hội thuộc tỉnh Hải Dương).

Ngày 21- 1 – 1957, huyện Lục Nam được thành lập theo Nghị định số 24 - TTg của Thủ trưởng Chính phủ. Thực hiện Nghị định 24, ba xã Cẩm Lý, Vũ Xã, Đan Hội thuộc huyện Chí Linh (Hải Dương); hai xã Yên Sơn, Bắc Lũng thuộc huyện Yên Dũng  (Bắc Giang); bảy xã Hoà Bình A, Tam Dị, Bảo Đài, Bảo Sơn, Tiên Hưng, Phương Sơn, Tân Lập thuộc huyện Lạng Giang (Bắc Giang) được trả về huyện Lục Ngạn (cũ). Trên cơ sở hai huyện Lục Ngạn và Lạng Giang chia tách thành ba huyện Lục Nam, Lục Ngạn và Lạng Giang. Huyện Lục Nam khi thành lập gồm các xã: Huyện lỵ Lục Nam đặt tại thị trấn Lục Nam.

Theo Nghị định số 535 – TC/CQNT/NĐ ký ngày 6 – 9 – 1957, hai xã Nam Sơn và Bắc Lũng được chia thành 4 xã; Nam Sơn, Cương Sơn, Bắc Lũng, Khám Lạng.

Ngày 28 – 7 – 1958, Bộ Nội vụ ra Nghị định số 241 – NV chia xã Phương Sơn thành 2 xã Phương Sơn và Trường Sơn; chia xã Hoà Bình B thành Thanh Sơn và Hùng Sơn; chia xã Mỹ An thành 2 xã Mỹ An và Trường Giang. Đồng thời chuyển xã Mỹ An về huyện Lục Ngạn, chuyển xã Lan Mẫu thuộc huyện Yên Dũng về huyện Lục Nam.

Thực hiện Chỉ thị số 23 – TTg ký ngày 15 – 4 – 1963 của Thủ tướng Chính phủ, hai xã được trả lại tên cũ; Hoà Bình A thành Chu Điện, Bắc Sơn thành Vô Tranh. Bốn xã được đổi tên mới: Tân Lập thành Đông Phú, Hùng Sơn thành Lục Sơn, Thanh Sơn thành Thanh Lâm, Nam Sơn thành Huyền Sơn.

Đến đây, huyện Lục Nam có 25 xã và 1 thị trấn: Bảo Đài, Bắc Sơn, Bắc Lũng, Bình Sơn, Cẩm Lý, Cương Sơn, Chu Điện, Đan Hội, Đông Phú, Đông Hưng, Huyền Sơn, Khám Lạng, Lan Mẫu, thị trấn Lục Nam, Lục Sơn, Nghĩa Phương, Phương Sơn, Tam Dị, Tiên Nha, Tiên Hưng, Thanh lâm, Trường Giang, Trường Sơn, Vũ Xá, Vô Tranh và Yên Sơn.

Huyện lỵ đặt tại thị trấn Lục Nam. Từ năm 1970, huyện lỵ đặt tại khu vực ngã tư Thân - Đồi Ngô.

Ngày 18-2-1997, Chính phủ ra Nghị định số 19/CP thành lập thị trấn Đồi Ngô trên cơ sở tách một phần dân cư từ xã Chu Điện, Tiên Hưng và Tam Dị. Thị trấn Đồi Ngô được xây dựng làm trung tâm huyện lỵ mới của Huyện.

3. Đặc điểm dân cư

Lục Nam là địa bàn có nhiều dân tộc cư trú. Ngoài người Kinh còn 7 dân tộc khác: Tày, Nùng, Cao Lan, Sán Dìu, Hoa, Dao và Mường.

Người Kinh có mặt khắp các xã trong huyện, là thành phần chính ở các xã trước đây thuộc Phượng Nhỡn. Ở những xã thuộc Bảo Lộc và Lục Ngạn cũ, xã nào cũng có đồng bào các dân tộc thiểu số cư trú.

Quy mô dân số tăng nhanh do tăng tự nhiên và cơ học bởi thực hiện chính sách di dân phát triển kinh tế - xã hội miền núi của Đảng và Nhà nước. Cụ thể:

1957

1965

1970

1975

1980

1985

1989

52.459

66.382

86.775

102.859

108.958

140.812

158.516

 

Mật độ dân số tăng nhanh: Năm 1957 là 102 người/km2; năm 1965 là 145 người/km2, năm 1980 là 184,1 người/km2, năm 1985 là 235 người/km2.

4. Kinh tế

Sản xuất nông lâm nghiệp: Từ lâu đời, nhân dân Lục Nam đã chú trọng khai thác lâm sản để trao đổi với vùng xuôi. Các sơn trang chặt hạ các loại gỗ quý, tre nứa đóng thành bè, mảng xuôi sông Lục Nam, đưa về vùng đồng bằng. Nhân dân vào rừng thu hái nhiều loại dược liệu rất sẵn ở rừng các tổng Cương Sơn, Vô Tranh, Mỹ An. Các loại nhựa thông, tràm; các loại lá, củ dùng làm thuốc nhuộm, các loại cây cho dầu.

Trong quá trình lao động, nhân dân Nghĩa Phương, Mai Sưu còn thuần chủng được nhiều khu rừng dẻ bạt ngàn, cung cấp cho thị trường một loại hạt có chất lượng dinh dưỡng cao. Hạt dẻ to mẩy, vị bùi, thơm ngon, được người tiêu dùng ưa chuộng. Dứa mật cũng là một đặc sản, quả to, cho năng suất cao. Chè được trồng nhiều ở Mai Sưu, Dùm, Quỷnh, Chỉ Tác và làng Húi. Do đặc điểm thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp nên chè Lục Nam thơm ngon, và có năng suất cao.

Ngoài các loại đặc sản là hạt dẻ, chè, dứa, nhân dân Lục Nam chú trọng cải tạo các loại cây ăn quả, phát triển kinh tế vườn đồi. Các loại cây ăn quả: Mít, cam, chanh, bưởi, mận,... thích hợp với điều kiện tự nhiên và được trồng thành vườn, bãi lớn, cung cấp cho thị trường trong vùng.

Thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ sớm phát triển. Nghề thủ công nổi tiếng nhất ở Lục Nam xưa kia là ươm tơ, kéo kén ở Chu Điện, làm hương đen ở làng Đọ (Cương Sơn) bện quang ở làng Sàng, nấu đường mật ở Đông Hưng,...

          Hoạt động buôn bán ở vùng đất Lục Nam sớm phát triển do có hệ thống giao thông thủy bộ phát triển. Trên sông Lục Nam, nhiều bến sông được mở để tàu thuyền cập bến, tập kết, trao đổi hàng hóa, như bến Chàng, Cẩm Nang, Chợ Sa, Chợ Dừa. Trên sông Bò có các bến Tứ Xuyên và bến Bò. Sông Bò là tuyến vận chuyển tre gỗ và các loại lâm thổ sản khác từ rừng Yên Tử - Nam Điện ra sông lớn, xuôi về đồng bằng. Xưa kia ngòi Cổ Man, ngòi Gốm thuyền buôn có thể đi lại quanh năm vận chuyển hàng hóa trong vùng Bảo Lộc, Phượng Nhỡn. Sông ngòi ở Lục Nam đã tạo thành mạng lưới giao thông đường thủy thuận tiện, tạo điều kiện cho hoạt động vận chuyển, mua và bán hàng hóa trong vùng.

Sự phát triển của sản xuất nông, lâm nghiệp và hoạt động buôn bán diễn ra sôi động đã dần hình thành nên hệ thống chợ vùng và chợ làng. Các chợ vùng là nơi trao đổi những loại đặc sản có thể đáp ứng nhu cầu cho nhiều khu vực xung quanh. Tại các chợ, sản phẩm trao đổi được các thương lái từ nhiều vùng đưa tới hoặc thu mua với số lượng lớn. 

          Những chợ làng có phạm vi trao đổi hẹp hơn, phục vụ nhu cầu trong tổng hoặc một vài tổng lân cận, hàng hóa đưa ra chợ chủ yếu là các sản phẩm địa phương và các nhu yếu phẩm, như thóc lúa, lợn gà, vải vóc, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các làng xã trong khu vực.

          Lục Nam ngày xưa có khá nhiều chợ: Chợ Dùm, chợ Thép, chợ Sàn, chợ Buộm, chợ Gàng, chợ Sa, chợ Dừa,...

5. Đời sống văn hóa dân gian

Đời sống văn hóa dân gian là tấm gương phản ánh hiện thực đời sống phong tục đa dạng của nhân dân Lục Nam qua nhiều thế kỷ. Lục Nam là vùng đất mở đối với nhiều luồng văn hoá và tín ngưỡng. Sự đan xen văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần giữa dân tộc Kinh và các dân tộc anh em hết sức phong phú, đa dạng. Đây là kho tàng quý báu lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, ngưng kết nhiều tinh hoa đáng tự hào và nhiều nguồn sử liệu phong phú.

Là vùng quê có bề dày truyền thống văn hóa, đời sống sinh hoạt văn hóa của nhân dân các dân tộc khá phong phú đa dạng, được thể hiện sinh động trước hết ở các lễ hội. Vào những dịp đầu Xuân năm mới, nhiều làng xóm ở Lục Nam mở hội. Các lễ hội lớn là hội làng Tòng Lệnh (Trường Giang) tổ chức vào ngày 7 tháng Giêng hàng năm. Trong dịp lễ hội, nhân dân trong làng tế lễ để tỏ lòng tưởng nhớ tướng quân Vũ Thành; tổ chức diễn lại cảnh luyện quân, sản xuất lương thực của nghĩa quân. Lễ hội đền Suối Mỡ (Nghĩa Phương) được tổ chức ngày 1 - 4 âm lịch. Dân làng tiến hành các nghi lễ rước sắc, cúng tế, tổ chức các trò chơi như chọi gà, đánh đu, vật, ... Hội đền Suối Mỡ là một trong những lễ hội lớn trong vùng.

Nhìn chung, lễ hội ở các làng xã gắn liền với lễ tế Thành hoàng làng và các cuộc rước bài vị của Thành hoàng từ đền ra đình và ngược lại. Phần hội gồm nhiều trò vui (đánh vật, đánh đu, cướp cầu) diễn ra sôi nổi, ngoài ra còn mời các chiếu chèo từ các nơi về diễn.

          Kho tàng văn học dân gian phong phú, nổi bật là các truyền thuyết, huyền thoại. Câu chuyện về ba anh em nhà Khang Công hợp sức đánh Hổ tinh trong khu vực Huyền Đinh vào thời Hùng Duệ Vương trong thời kỳ dựng nước của dân tộc, được thờ phụng ở đình làng Dùm, ghi lại công lao trong câu đối.

          Truyền thuyết về hang Non, hang Dẫm trên dãy Yên Phú (Bắc Lũng) kể về người mẹ và ba người con. Tương truyền thời Hùng vương có một ngư phủ cầu thần núi Yên Phú sinh được một người con gái, đến năm 20 tuổi vẫn chưa lấy chồng. Một hôm ra suối tắm, bị rồng cuốn rồi có mang sinh một bọc được ba trai. Lớn lên họ rất khôi ngô, chỉ thích đọc sách. Vào canh ba đêm nọ, mưa gió nổi lên, họ biến thành ba con rắn, chui vào núi Lãm Sơn biến mất. Người mẹ thương khóc đi tìm thấy 2 đuôi – vì thế sau gọi là 1 ông dài, hai ông cộc. Chỗ hang núi các con hóa, thông ra sông Lục Nam thành 3 cái vực, còn chỗ bà mẹ mất gọi là vực Dẫm. Đến nay một số làng ở Bắc Lũng vẫn có đền thờ[1]. Bờ sông Lục Nam thuộc xã Bắc Lũng có ngôi miếu thờ Tam vị đại vuơng, phía trước có nhiều vực sâu.

          Huyền thoại về Quế Mỹ Hương công chúa, con vua Hùng Định Vương, đã trở thành Thượng ngàn Thánh mẫu. Đền Suối Mỡ bên sườn Huyền Đinh, phía trước có vực sâu, thác cao mang tên Đầu Voi. Đây là một thắng cảnh kỳ thú, có núi non nên thơ, ngoạn mục, trở thành điểm du lịch tâm linh, cuốn hút đông du khách thập phương.

          Truyền thuyết về nghè Hàn Lâm (Nghĩa Phương), xuất hiện vào thời Lý. Hai vợ chồng Hà Văn, sinh được con trai đặt tên là Hà Chiếu. Càng lớn, càng thông minh ham học, thi Thái học sinh đỗ Tam giáp (tương đương đồng tiến sĩ xuất thân), làm đến Hàn lâm Học sĩ, có công đi sứ nhà Tống, điều đình được phong là Thắng Địch hầu. Ít lâu sau, ông lại đi sứ, đối đáp lưu loát, nhà Tống rất nể, nhưng không may bị mất ở đất Bắc. Vua Tống cho mang linh cữu của ông về nước. Ông được phong là Thắng Địch Hướng Thiên cư sĩ Đại vương, được 27 xã phụng thờ. Nghè Hàn Lâm có câu đối ghi công trạng của ông:

“Học sĩ thanh sanh dương Bắc địa

Bồng lai cung khuyết đối Nam thiên”

(Học sĩ tiếng thơm lừng đất Bắc

Cung tiên cao rộng sách trời Nam).

          Gắn với di tích Nghè Giếng (Nghĩa Phương) có truyền truyết về Vĩnh Đạt Đại Vương. Ông tên là Dương An Quý, thi đỗ hương cống trong kỳ thi Thái học sinh thời Lý Thánh Tông, làm quan đến chức lệnh doãn, cùng đi sứ với Hà Chiếu. Xong việc về đến Nghĩa Phương thì hóa. Đời vua Trần Anh Tông được sắc phong là Hoằng tán mỹ hóa Vĩnh Đại vương.

          Truyền thuyết ở làng Tòng Lệnh (Trường Giang) kể về Vũ Tinh, từng làm tới chức Tả Bộc xạ thời Lý, lấy Thái Đường công chúa – con của Lý Huệ Tông. Sau Vũ Tinh chuyển sang Bồng Lai (Phượng Sơn - Lục Ngạn) sinh được một con trai đặt tên là Vũ Thành. Lớn lên, chàng trai học giỏi cả văn lẫn võ. Theo thần tích ở Tòng Lệnh: “Thời ấy có giặc Bắc khấu dấy loạn tàn hại sinh linh. Vua sai sứ đi tìm người tài giỏi giúp nước. Vũ Thành đến  điện đình, xin được đi đánh giặc, lĩnh một thanh bảo kiếm, một con ngựa trắng, đem quân ra trận. Vua phong là Trung dũng hầu Đầu thượng tướng quân… Vũ Thành đi đánh giặc, vợ ở nhà vẫn có thai. Thánh mẫu có ý nghi ngờ, vợ ông trình với Thánh Mẫu: Chồng con thường đêm đêm về nhà, nếu mẹ nghi ngờ con xin giấu gươm chồng con trình mẹ hay! Một đêm ông về nhà, vợ giấu thần kiếm đi, đổi kiếm gỗ vào. Ông ra trận đuổi giặc đến tận cửa ải, lúc giáp trận rút kiếm ra dùng thành ra kiếm gỗ không chém được. Quân giặc thấy vậy xông tới chém đứt đầu. Ông cầm lấy đầu nhảy lên mình ngựa, phi về huyện Lục Ngạn. Tới Hả Hộ gặp một bà lão ông hỏi: “Mất đầu sống chết thế nào? Bà lão nói: Mất đầu thì chết! Vũ Thành nói: Ta chết nhưng hồn ta còn sống mãi với non sông! Rồi lên núi Lệ Kỳ  hóa”.

          Về những ngày Vũ Thành xung trận, thần tích thôn Hạ Mã ghi: “Vũ Thành ngày đêm thường đem quân đánh trận xong là về thôn Hoa Lỗ xuống ngựa nghỉ ngơi. Vì vậy thôn Hoa Lỗ lấy tên là Hạ Mã. Người sau nhớ ơn ông lập đền thờ ở thôn Hạ Mã làm kỷ niệm”.

          Truyền thuyết, huyền thoại của nhân dân các dân tộc Lục Nam để lại cho đời sau những nét chân thực về một thời kỳ khai sơn phá thạch, chống chọi với thú dữ và thiên nhiên khắc nghiệt cùng với chiến công vẻ vang trong sự nghiệp đánh đuổi ngoại xâm, bảo vệ quê hương, xứ sở. Đó chính là những trang sử được nhân dân tạc dạ ghi lòng cho các thế hệ tiếp theo.

          Tục ngữ, phương ngôn vùng Lục Nam cũng là một kho tàng văn hóa dân gian quý báu, phản ánh nhiều lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội. Nhiều truyền thuyết của địa phương được cô đúc lại thành những câu chuyện ngắn gọn, dễ thuộc, dễ nhớ, lưu truyền từ đời này sang đời khác.

Câu chuyện về ba vị đại vương hóa thành rắn thần cùng với người mẹ ở Bắc Lũng đã được tóm gọn trong câu Mẹ hang Non, con hang Dẫm. Đặc biệt là truyền thuyết về chàng Nậu giành giật đất đặt mộ ở Hà Thành (Chu Điện), việc triệt Long mã ở chùa Phai – Hà Tú, chặt cổ Ngũ tượng ở Đìa Dội (Tiên Hưng), để làm mất đất đế vương.

          Nhiều hiện tượng lịch sử thời kỳ cận đại cũng đi vào tục ngữ, phương ngôn. Cuộc khởi nghĩa năm Nhâm Tuất đã in dấu ấn khá đậm nét, phản ánh khá trung thực về con người, sự kiện của thời đại:

- Trên trời có ông sao dài.

Sinh trên tỉnh Bắc có Cai tổng Vàng

- Ngẫm trong nữ sử nước nhà

Mấy ai sánh kịp vợ ba Cai Vàng

          Câu chuyện về năm người tự xưng là hùng bá Vua Xuân, Chúa Biểu, Đức ông De, Thắng Trạng đồng dĩnh, Thống tướng Mè tụ tập nhau ở Khe Than (Nghĩa Phượng) rồi kéo lên núi Huyền Đinh lập ra một cái tiểu triều đình để chống lại đại triều đình cũng được ghi nhận:

“Huyền Đinh một dải xa xa

Vương triều nhỏ bé, dăm ba tớ thày”.

          Tục ngữ, phương ngôn dành cho quê hương khá nhiều điều. Từ một thành ngữ về sự xa lánh, hoang vắng trong tâm linh người Việt như Đèo Heo – Hút Gió ở Cẩm Lý đến “Ruồi vàng, bọ chó, gió Mai Sưu”. Chỉ cần như vậy, ta đã thấy một Lục Nam thời cổ có một thiên nhiên khắc nghiệt đến nhường nào. Nhưng không phải chỉ có thế, qua bao thế hệ cần mẫn khai làng, lập trại, nhân dân Lục Nam đã tự hào với những dứa Sàn, mật Chũ; Mít làng Nghè, chè Mai Sưu; Quang nứa làng Sàng, khoai lang làng Đọ, Khoai sọ làng Non, lợn con làng Dẫm (Dẫm lợn con, Non Khoai sọ, Đọ: khoai lang, Sàn: quang nứa). Mỗi địa danh, tên núi, tên đồi đã hiện lên và gắn bó máu thịt với người dân Lục Nam:

- Hố Trâu, Rông Khế, Ba Gò

Trại Găng, Bắc máng, sông Bò, Cầu Kheo

- Cao nhất núi Gốm mình ơi

Trông về Trại Lán khắp nơi trồng chè

Dùm, Quỷnh lắm ngựa nhiều xe

Cửa nhà san sát trồng tre bốn bề

Ai đi đến đó cũng mê

- Chợ Chè tháng ba chục phiên

Ai lên Dùm Quỷnh đừng quên chợ chè

- Chợ Chàng một tháng sáu phiên

Gặp cô hàng xén, kết duyên châu trần

- Muốn ăn cơm trắng cá rô

Thì về Dùm Quỷnh quẩy bồ với em

Muốn ăn cơm trắng cá mè

Thì về Dùm, Quỷnh hái chè với anh.

Một thời bóng cả cây già, một cây có thể làm được ba ngôi đình cũng có hình bóng trong phương ngôn Ngọn đình Cọc, gốc đình Dùm, trùm đình Kẻn.

Đồng bào các dân tộc, nhất là người Tày cũng có một kho tàng tục ngữ khá phong phú, hầu hết phản ánh mối quan hệ xã hội, kinh nghiệm sản xuất, tình yêu quê hương.

Đặc biệt, hệ thống thắng tích, danh sơn của Lục Nam đã được huyền thoại hóa bởi nhiều truyền thuyết, phương ngôn. Đình Kẻn là nơi Cai Vàng tuyên thệ nhậm chức đại nguyên soái. Khu đình - đền – chùa Thượng Lâm (xã Thanh Lâm) một công trình kiến trúc nghệ thuật xây từ đời vua Lê Hiến Tông (hiệu Cảnh Hưng năm thứ 42), thờ Trần Cảo, Trần Cung, 2 thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa nông dân đầu thế kỷ XVI. Thành nhà Mạc đắp bằng đất từ cuối thế kỷ XVI chạy từ Nam lên Bắc, qua nhiều xã trong huyện. Danh sơn Phú Lãm xưa kia cây cối um tùm có am Hồ Thiên, nhà Lê xây chùa Hồ Thiên với quy mô tráng lệ, nhưng bỏ dở, nay còn dấu tích. Danh sơn Yên Phú thuộc xã Bắc Lũng, bên trên có nhiều đá xanh, giếng đá và ba hốc đá nước không bao giờ cạn, kế bên có đền Tam vị Đại vương.

Tín ngưỡng tôn giáo: Tín ngưỡng của người Kinh ở Lục Nam là đa thần giáo. Hầu hết làng xóm đều thờ thần núi (Cao Sơn – Quý Minh), thờ dấu chân thần, rắn thần, thổ thần (Bắc Lũng, Chu Điện), thần cây gạo (Phương Lạn). Người Dao, Cao Lan, Hoa, Sán Dìu không cúng giỗ tổ tiên nhưng có thắp hương vào bát hương thờ ông bà và bát hương thờ thổ thần. Người Hoa còn có thêm hai bát hương để ở chân cột ngoài hiên.

Đa số nhân dân thờ Phật. Nhiều làng xóm có chùa. Hàng tháng vào hai kỳ sóc, vọng (mồng 1 và rằm) các cụ bà lại lên chùa lễ Phật, tối 14 tháng 7 làm Lễ vu lan. Phật giáo ở Lục Nam và tín ngưỡng bản địa có sự đan xen, hòa đồng rất rõ.

Thiên Chúa giáo vào Lục Nam khá sớm, từ giữa thế kỷ XIX. Số người là tín đồ Thiên Chúa giáo cũng khá đông.

Truyền thống hiếu học lâu đời, thể hiện ở việc học hành, thi cử có một số người thành đạt.

- Hà Chiếu, người Nghĩa Phương, đỗ Tam giáp Thái học sinh triều Lý Thánh Tông (1054 - 1072), được phong Hàn lâm học sĩ, nhà ngoại giao.

- Dương An Quý, người Nghĩa Phương, đỗ Hương cống Thái học sinh triều Lý Thánh Tông, làm đến Lệnh doãn, nhà ngoại giao.

- Nguyễn Thọ Vinh, người Bắc Lũng, đỗ Hương cống thời Lê Chính Hoa (1680 - 1705), làm đến tri huyện.

- Nguyễn Đăng Điều, người Bắc Lũng, đỗ Hương cống thời Lê Chính Hòa, làm đến tri huyện.

Nguyễn Liên, quê Khám Lạng, học sinh Quốc Tử Giám, đỗ Tam trường triều Cảnh Hưng (1740 - 1786) làm huấn đạo phủ Trường An.

Ngày nay, Đảng bộ và nhân dân Lục Nam đặc biệt quan tâm sự nghiệp giáo dục - đào tạo, làm giàu tri thức. Chủ trương xã hội hóa giáo dục được thực hiện hiệu quả.

Truyền thống thượng võ

Là một vùng thiên nhiên có núi non hiểm trở, lại nằm trên một hướng chiến lược quan trọng của nước ta, nên hầu như tất cả các thế lực ngoại xâm khi thực hiện âm mưu xâm lược nước ta đều đưa quân chiếm cứ, hòng khống chế mọi ngả đường tiến đánh xuống vùng xuôi. Đã thành thông lệ, các thế lực ngoại xâm: Nguyên, Minh, Pháp, Nhật đều chú trọng nắm giữ vùng này. Kẻ thì dùng làm bàn đạp để đánh chiếm Thăng Long, hoặc để bảo toàn ách thống trị. Kẻ thì làm điểm tựa để chi phối biên giới, hoặc xây dựng hậu cứ lâu dài.

Chính vì vậy, nơi đây đã diễn ra nhiều cuộc đụng đầu giữa chủ nghĩa yêu nước, tinh thần kiên cường bảo vệ nền độc lập dân tộc và các thế lực ngoại xâm.

Trong thời kỳ phong kiến độc lập, Lục Nam thuộc vùng đất phên dậu phía ngoài do các tù trưởng cai quản. Trong các chủ trương và biện pháp của mình, các triều đình đã chú trọng tới việc tranh thủ sự ủng hộ và đoàn kết các dân tộc thiểu số để củng cố nền độc lập dân tộc, làm thất bại các âm mưu mua chuộc, chia rẽ, tiêu hao sinh lực, nêu cao ý chí tự cường, kiên quyết bảo vệ nền độc lập của dân tộc.

Truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái

Để có vùng quê giàu đẹp như hôm nay, các thế hệ người dân Lục Nam đã phải trải qua quá trình đấu tranh lâu dài khắc phục thiên tai, đối chọi với giặc giã. Từ quá trình đó, nhân dân các dân tộc huyện Lục Nam hun đúc nên truyền thống đoàn kết, gắn bó bền chặt giữa các thôn, làng với nhau, giữa các gia đình với nhau và tình tương thân tương ái, yêu thương đùm bọc nhau. Các gia đình có ứng xử với nhau theo quan hệ láng giềng gần gũi kết hợp với quan hệ huyết thống, "tình làng nghĩa xóm" được đề cao, mọi người có ý thức cao về công việc chung.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự đoàn kết thống nhất của mỗi tổ chức Đảng trở thành ngọn cờ tập hợp, phát huy truyền thống đoàn kết của quê hương. Trong sự nghiệp cách mạng mới, truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái không ngừng được bồi đắp trở thành sức mạnh để Đảng bộ và nhân dân bền bỉ vươn lên trong gian khổ, tạo dựng cuộc sống trên vùng đất đầy khó khăn, từng bước phát triển, làm giàu quê hương thân yêu.

Truyền thống tự lực tự cường, kiên cường sáng tạo trong lao động và cuộc sống

Trong tiến trình lịch sử hình thành và phát triển lâu dài, các thế hệ người dân đã nối tiếp nhau kiên cường, sáng tạo trong lao động, chống chọi với thiên tai, cải tạo ruộng đồng, dựng xây xóm làng ngày càng trù phú trên một vùng đất gặp nhiều bất lợi cho sản xuất và cuộc sống.

Là huyện có đại đa số nhân dân làm nghề nông, trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, người nông dân bị chiếm đoạt hết ruộng đất, trở thành những người tá điền quanh năm đi cày thuê cuốc mướn. Mặc dù cần cù lao động, nhưng dưới ách thống trị của thực dân phong kiến, đời sống nhân dân lao động vô cùng cơ cực, đói rách, dịch bệnh đè nặng. Để mưu sinh, người dân phải tần tảo, chịu thương chịu khó, dựa vào vườn bãi, núi rừng. Từ khi đất nước độc lập, người nông dân làm chủ cuộc sống, làm chủ ngôi nhà mảnh vườn, gắn bó với quê hương. Đi theo con đường làm ăn tập thể, nhân dân có ý thức tự giác cao, các hợp tác xã ở Lục Nam đạt nhiều thành tích cao trong cả trồng trọt và chăn nuôi, sản xuất tiểu thủ công nghiệp,...

Trong sự nghiệp đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, truyền thống tự lực tự cường, kiên cường, sáng tạo trong lao động sản  xuất của nhân dân được phát huy cao độ, nhân dân tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lựa chọn những giống cây con, thay đổi mùa vụ để đem lại hiệu quả kinh tế cao. Từ sức lao động, trí tuệ của mình, Đảng bộ và nhân dân Lục Nam khai thác hiệu quả tiềm năng lao động, đất đai, tạo dựng quê hương, nâng cao nguồn lực con người.     

*

*          *

Là huyện mới thành lập sau ngày kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, hòa bình lập lại trên miền Bắc, do sự chia tách ra từ 3 huyện nhưng đó là sự xác lập địa giới hành chính cho sự ra đời của một huyện mới trên vùng đất cổ, có truyền thống văn hóa lâu đời, sự hình thành và phát triển văn hóa liên tục, gắn liền với tiến trình lịch sử dân tộc. Trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc do Đảng lãnh đạo, phong trào cách mạng nơi đây diễn ra sôi động, có tác động lớn đến phong trào cách mạng trong vùng lân cận.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                   

 

                                                  Chương II

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CƠ SỞ ĐẢNG TRÊN ĐỊA BÀN LỤC NAM  VÀ LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN TRONG CÁH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

 

1. Chế độ cai trị hà khắc của thực dân Pháp và phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Lục Nam

Thực hiện âm m­ưu xâm l­ược n­ước ta, năm 1858, thực dân Pháp đã nổ súng vào thành Đà Nẵng, mở đầu quá trình xâm lược và thôn tính Việt Nam. Sau đó, trải qua một thời gian tiến hành chiến tranh xâm l­ược tàn bạo, nham hiểm, với sự thỏa hiệp từng bước của triều đình nhà Nguyễn, thực dân Pháp đã lần lư­ợt chiếm đư­ợc 6 tỉnh Nam Bộ, rồi đánh ra miền Bắc, chiếm Hà Nội và một số tỉnh thành.

Sau khi chiếm thành Bắc Ninh, sáng 15-3-1884, quân Pháp huy động một lực l­ượng lớn đánh chiếm Phủ Lạng Th­ương, mở đ­ường tiến lên Lạng Sơn. Đầu tháng 6-1884, thực dân Pháp thành lập ở Phủ Lạng Th­ương một đạo quân để tiếp tục tiến đánh Lạng Sơn. Sau ba lần đánh Lạng Sơn thất bại, thực dân Pháp chú trọng mở mang đường giao thông để chuẩn bị cho các cuộc đánh chiếm tiếp theo.

Sau khi hoàn thành việc chiếm đóng Bắc Ninh, Phủ Lạng Thương, thực dân Pháp đưa quân tiến lên vùng Bảo Lộc, Lục Ngạn. Đây là địa bàn dày đặc quân phong kiến Mãn Thanh, có sự phối hợp tác chiến của nghĩa quân Lưu Kỳ - Hoàng Thái Nhân. Nghĩa quân Lưu Kỳ - Hoàng Thái Nhân đánh du kích giỏi, thông thạo lối đánh mai phục, khiến cho quân Pháp phải tốn nhiều công sức, thời gian đối phó. Nghĩa quân đứng chân ở vùng rừng núi hoang vu, lập những căn cứ tạm thời, được giữ bí mật, bất kỳ lúc nào cũng có thể rời bỏ đi nơi khác.

Đầu tháng 10- 1884, khi đưa quân đánh chiếm vùng đất Lục Nam, quân Pháp đã vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ của nhân dân mà tiêu biểu là lực lượng nghĩa quân do Lưu Kỳ – Hoàng Thái Nhân lãnh đạo. Địch đưa chiến thuyền ngược sông Lục Nam, khi qua Cương Sơn đã bị chặn đánh, tên chỉ huy tử trận, pháo thuyền đến ứng cứu nhưng không nổi. Khi về đến Phả Lại. Quân Pháp buộc phải điều quân từ Đáp Cầu lên ứng cứu, cho quân kiểm soát hoạt động trên sông Thương, tiến lên vùng Bảo Lộc.

Đầu tháng 1-1885, quân Pháp tập trung ở Chũ tới 7.186 lính, 4500 phu. Ở đây, quân Pháp liên tục bị quân Mãn Thanh và nghĩa quân Lưu Kỳ - Hoàng Thái Nhân tấn công khi chúng đưa quân đi càn quét.

Năm 1886, thực hiện Hòa ước 1884, quân Mãn Thanh rút về nước, nghĩa quân Lưu Kỳ - Hoàng Thái Nhân chuyển địa bàn hoạt động sang vùng Đông Triều. Từ đầu năm 1888, nghĩa quân trở lại tập hợp lực lượng đẩy mạnh hoạt động trên địa bàn Lục Ngạn, tổ chức tấn công quân Pháp.

Trước sự gia tăng hoạt động của nghĩa quân, địch đã huy động quân đội tiến công hòng tiêu diệt lực lượng nghĩa quân. Nhưng các cuộc tiến công đều bị lực lượng nghĩa quân chặn đánh, tiêu diệt nhiều tên.

Cuối tháng 8 đầu tháng 9 – 1889, trận đánh Thượng Lâm tiêu diệt 9 tên, 23 người bị thương. Trong khi đó, nghĩa quân vẫn hầu như nguyên vẹn. Sau đó, nghĩa quân liên tiếp tiến hành tập kích địch ở nhiều nơi: vào Cấm Sơn, Đầm và cắt dây điện thoại ở An Châu - Vĩ Loại, … diệt nhiều giặc. sau đó, nghĩa quân chuyển sang vùng núi Yên Tử, rồi rút lên Bảo Đài củng cố lực lượng và hệ thống đồn lũy.

Thực hiện chính sách chia để trị nhằm đối phó với các phong trào khởi nghĩa, ngày 5-11-1889, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Lục Nam bao gồm các huyện Bảo Lộc, Phượng Nhỡn, Lục Ngạn, Hữu Lũng và Yên Bắc (Sơn Động); đặt tỉnh lỵ tại thị trấn Lục Nam.

Ngày 8-9-1891, Toàn quyền Đông Dương lại ra Nghị định xóa bỏ đơn vị hành chính tỉnh Lục Nam, đưa hai huyện Bảo Lộc, Phượng Nhỡn trở lại tỉnh Bắc Ninh, các huyện còn lại đưa vào Đạo quan binh thứ nhất, Đạo lỵ đóng ở Phả Lại. Lục Ngạn thuộc tiểu quân khu Phả Lại (cùng Yên Bắc, một phần huyện Hoành Bồ, Đông Triều, Chí Linh).

Mặc dù đã đặt Lục Ngạn và một số vùng xung quanh vào hệ thống cai trị cứng rắn bằng quân sự nhưng vẫn không thể kiểm soát được tình hình. Thực dân Pháp tập trung lực lượng tổ chức nhiều cuộc càn quét nhưng chỉ đẩy được nghĩa quân lên núi Bảo Đài.

Lưu Kỳ bị trọng thương rồi hy sinh (9 - 7- 1892). Nghĩa quân hoạt động dưới sự chỉ huy của vợ Lưu Kỳ cho tới năm 1893 Hoàng Thái Nhân trực tiếp chỉ huy, liên tục tiến hành các vụ ám sát, bắt cóc. Nghĩa quân tan rã sau khi Hoàng Thái Nhân qua đời (1-1894).

Cuộc khởi nghĩa Lưu Kỳ - Hoàng Thái Nhân trong suốt 10 năm hoạt động (1884 - 1894)  đã gây cho Pháp nhiều tổn thất nặng nề, thể hiện lòng dũng cảm, ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân các dân tộc Lục Nam.

Sau khi đưa quân đánh chiếm, cơ bản bình định được vùng núi Lục Ngạn, thực dân Pháp lập ra bộ máy cai trị, đứng đầu phủ có quan tri phủ và một số nha lại người Việt giúp việc. Chỉ huy đồn binh, kiểm lâm, an ninh thường là người Pháp. Tổng số quan chức của phủ không quá 20 người.

Để kiểm soát khu vực và khai thác nông – lâm thổ sản trong vùng, chuyển về xuôi, thực dân Pháp xây dựng hệ thống giao thông đường bộ, điện thoại, điện tín.

Chúng bắt phu để làm các tuyến đường bộ và cầu cống. Năm 1889 đường chiến lược liên tỉnh số 13 từ Phủ Lạng Thương đi Đình Lập cơ bản hoàn thành. Ngoài ra, Pháp còn mở đường từ Lục Nam đến Hà Châu, đường số 17; đường Lục Nam đi Gàng (số 137), đường Đông Nham, Cẩm lý (số 175), đường Đình Kim - Mai Sưu (số 174), đường Khám Lạng - Vạn Ninh (số 31).

Sông Lục Nam được khai thác, trở thành đường thủy quan trọng. Thuyền bè chở khách, binh lính, hàng hóa, nối liền Lục Nam với các trung tâm kinh tế Hải Phòng, Hải Dương. Dọc sông xuất hiện nhiều bến: Đức La, chợ Dừa (Chỉ Tác), Tứ Xuyên, Chàng, Chũ, Bến Bò,...

Năm 1885, các trạm bưu điện ở Chũ, Từ Xuyên, Kép Ba được xây dựng, sau đó, lập Trạm bưu điện Lục Nam.

Thực dân Pháp đã xây dựng hệ thống đồn binh ở các vị trí quan trọng, trong đó phố Lục Nam trở thành cứ điểm chốt giữ trọng yếu. Ở thị trấn Lục Nam có 9 lính cơ đảm nhận việc tuần phòng, áp giải tội phạm.

Trên địa bàn các tổng, xã có các tổ đoàn, xã đoàn, lính dõng đóng, làm nhiệm vụ tuần phòng, trông coi đường giao thông, kiểm soát việc buôn lậu, giữ trật tự ở các chợ.

Cùng với việc áp đặt bộ máy cai trị mang nặng tính đàn áp, khủng bố, thực dân Pháp tiếp tục duy trì bộ máy cai trị phong kiến ở hương thôn hòng kìm kẹp, bóc lột kiệt quệ nhân dân.

Sau một số lần cải lương hương chính, đến đầu thế kỷ XX, ở cấp xã chúng thay thế Hội đồng kỳ mục bằng Hồi đồng hương chính với một đội ngũ chánh, phó hương hội, ký, thủ quỹ, chưởng bạ, hộ lại. Hội đồng lý dịch được củng cố, trong đó lý trưởng có quyền lực cao hơn, giữ con dấu, địa bạ, các chỉ thị, lo việc sưu thuế, giữ gìn an ninh.

Chính sách cai trị hà khắc, thực dân Pháp cấm tổ chức hội kín với những mức phạt bằng tiền và giam cầm hết sức nặng nề. Theo đó ngư­ời tham gia hội kín bị phạt từ 100 - 500 phrăng, giam từ 6 tháng - 24 tháng, ngư­ời lập hội bị phạt gấp đôi. Bất kỳ cuộc hội họp nào, kể cả cúng tế, có trên 20 ng­ười tham dự đều phải xin phép. Thực dân Pháp ra những điều luật phạt nặng những ng­ười chống lại từ mức án tử hình, đày biệt xứ đến phạt giam, phạt tiền… Người cầm vũ khí chống lại nước Pháp bị xử tử, người có âm mưu và hành vi kích động nội chiến thì bị đày biệt xứ. Với các hình phạt nghiêm ngặt này, thực dân Pháp hòng đè bẹp ý chí phản kháng của nhân dân ta.

Để khống chế ngư­ời dân, năm 1921 Thống sứ Bắc Kỳ ra Nghị định thành lập ở mỗi làng một Hội đồng tộc biểu, mở đầu công cuộc cải lương hương chính.

Do các dòng họ có vai trò to lớn ở làng xã, thực dân Pháp muốn Hội đồng tộc biểu (còn gọi là Hội đồng hư­ơng chính) sẽ giúp làm tốt hơn việc quản lý làng xã. Đứng đầu Hội đồng này là chánh h­ương hội, giúp việc là cùng phó hương hội, chư­ởng bạ, hộ lại, th­ư ký, thủ quỹ giúp việc. Do vấp phải sự phản ứng quyết liệt. Năm 1927 chúng phải lập lại Hội đồng kỳ mục bên cạnh Hội đồng tộc biểu. Năm 1941, bãi bỏ cả 2 để thay thế bằng Hội đồng kỳ hào - đứng đầu là tiên chỉ, thứ chỉ.

Bộ máy quản lý làng xã vốn mang tính chất cư­ờng hào, đến đây càng trở nên cư­ờng hào hơn. Với thiết chế ấy, toàn bộ giai cấp nông dân bị đẩy vào cảnh bần cùng hóa, bị phá sản và phân hóa - nô dịch nặng nề hơn. Người nông dân không chỉ bị áp bức, mất hết quyền tự do mà còn bị bóc lột hết sức nặng nề.

Về văn hóa, thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hóa nô dịch, thực dân, “ngu để trị”, khuyến khích phục hồi các hủ tục lạc hậu, tuyên truyền đề cao giá trị văn hóa “mẫu quốc” Pháp, hòng xóa bỏ các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Để đào tạo một số người có thể tham gia vào bộ máy cai trị tay sai, chúng cho phép mỗi xã (nếu có trên 500 suất đinh, dưới số này nhiều xã gộp lại) có thể mở một trường tiểu học Pháp - Việt con trai, dân trong xã phải chịu mọi chi phí xây dựng, trả lương giáo viên.

Học sinh học bằng chữ Quốc ngữ, mỗi tuần có mấy giờ chữ Pháp, chữ Hán.

Trên địa hạt phủ Lục Ngạn (vào những năm 30) chỉ có một trường kiêm bị đặt ở thị trấn Lục Nam, 3 trường sơ học có một giáo viên (Chũ, Bảo Lộc, Thanh Giã), 5 trường hương học (Nghĩa Phương, Chỉ Tác, Sơn Đình, Bắc Lũng, Chu Điện). Tỷ lệ người đi học so với dân số năm 1931 đến 1936 ở phủ Lục Ngạn là 5 phần nghìn (0,5%).

Tính đến ngày 14 - 6 – 1932, Phủ Lục Ngạn có 1 trường tiểu học Pháp - Việt con trai với 139 nam sinh, 1 nữ sinh; 1 trường học con gái 31 nữ sinh; 3 trường sơ học với 116 nam sinh, 13 nữ sinh và 2 trường hương học với 74 nam sinh, 18 nữ sinh.

Nội dung giáo dục ngày càng nặng tính chất nô dịch, ngu dân. Ngay từ tuổi ấu thơ, học sinh đã bị nhồi nhét tư tưởng phục Tây, sợ Tây. Quy mô, số lượng trường lớp bị hạn chế, thi cử khó khăn, tuổi học giới hạn nghiêm ngặt cho từng lớp, từng cấp. Do sự kiểm duyệt nghiêm ngặt cùng những khoản đóng góp tốn kém, chỉ con em các gia đình khá giả mới đủ điều kiện học tiếp ở huyện, ở tỉnh.

Là vùng đất giàu tài nguyên, nên sau khi cơ bản hoàn thành bình định vùng đất này, chính quyền thực dân đã tạo điều kiện cho các nhà tư bản đến khai thác đất đai, sức lao động. Cùng với chính sách bóc lột của thực dân Pháp, các hoạt động sản xuất và thương mại, phục vụ công cuộc khai thác kinh tế cũng phát triển.

Do có điều kiện giao thông thuận tiện bởi nhiều tuyến đường thủy bộ chạy qua nên thị trấn Lục Nam trở thành một trung tâm thu mua, tập kết nông, lâm sản lớn.

Thị trấn Lục Nam đã có diện mạo mới, dần mọc lên những ngôi nhà ngói, nhà tầng, có trường học, nhà máy xay, bệnh viện, bưu điện, xưởng đúc gang, cửa hàng mọc lên, thu hút nhiều thương nhân đến buôn bán,...

Một số nghề thủ công truyền thống được duy trì, như làm hương đen ở thôn Đọ (Cương Sơn), trồng dâu nuôi tằm ở Chu Điện hoặc bện quang, đánh thừng ở Bắc Lũng,...

Chính quyền thực dân thực hiện bóc lột nhân dân nặng nề bằng chính sách sưu cao thuế nặng. Với thủ đoạn tinh vi là rút độ dài của thước ta (quan điền xích) từ 47 xentimét xuống 40 xentimét, từ tháng 1 – 1898 số ruộng đất ở các địa phương tính theo đơn vị mẫu Bắc Bộ bị tăng khống lên gần gấp rưỡi. Theo đó là một biểu thuế tính theo đơn vị đo lường mới, chia ruộng đất thành nhiều loại khác nhau để tận thu đến cùng kiệt các nguồn hoa lợi trên tất cả các loại đất từ sình lầy chưa canh tác đến ao hồ, đất thổ cư.

Dã man và tàn bạo nhất là thuế thân đánh vào đàn ông tuổi từ 18 đến 60, còn gọi là thuế đinh hoặc sưu. Chúng tăng mức thu đối với dân chính cư (nội đinh) và bắt dân ngụ cư (ngoại đinh) cũng phải đóng góp để được lý trưởng cấp thẻ, có dấu, chữ ký hoặc điểm chỉ. Không có thẻ, mất thẻ hoặc để quên thẻ, cho mượn thẻ đều bị phạt rất nặng.

Nếu lúc đầu nội đinh phải nộp 2 đồng 5 hào, ngoại đinh nộp 3 hào thì đến năm 1903, nội đinh phải nộp tăng lên 3 đồng, ngoại đinh 5 hào.

Trước đây triều đình Huế đánh thuế thân vào nội đinh là 1 quan 5 tiền (0,315đồng) để lĩnh thẻ mới. Dùng thẻ mượn và người cho mượn đều phải nộp phạt một khoản tiền từ 5 đồng đến 10 đồng.

Mức thuế không ngừng tăng lên. Thế ruộng chia ra làm 4 hạng, thuế đất làm 6 hạng, với mức thuế nhiều lần tăng.

Ngoài sưu cao, thuế nặng, người nông dân còn phải nộp các khoản tiền hương ước, tiền cheo cưới (nội cheo, ngoại cheo), tiền canh giữ đồng điền – sương túc. Dưới ách áp bức thực dân phong kiến, thân phận người dân lao động, nhất là những người nông dân ở những tổng vùng đồng chiêm trũng là một chuỗi ngày đói rách, long đong cơ cực.

Chính sách cướp đất lập đồn điền. Là vùng đất rộng, người thưa, đồng ruộng hoang hóa nhiều, từ giữa thế kỷ XIX, triều đình nhà Nguyễn đã có ý thức mở mang đồn điều ở đây. Tháng 11-1867, Sở đồn điền Hà Hộ được thành lập nhằm khai phá ruộng nương, cày cấy với sự đầu tư và quyền lợi rộng rãi. Tuy nhiên, chỉ một thời gian ngắn sau đó đồn điền này phải đóng cửa vì điền tốt (tá điền) ốm đau nhiều, làm ăn thua lỗ.

Dưới chiêu bài di nhượng, mua bán, thực dân Pháp đã ra sức cướp đoạt ruộng đất ở Lục Ngạn, Phượng Nhỡn, Bảo Lộc để lập đồn điền, nhất là trong những năm đầu thế kỷ XX.

Đồn điền của Công ty Canh nông Bến Bò, trải dài từ Đầm sang Quỷnh, trong đó ở Nam Điện có 1.504,9 héc ta, Mỹ Nương có 21,64 héc ta.

Đồn điền Bến Bò 2.088 héc ta, nhưng chỉ có 521 héc ta trồng trọt (lúa: 500 héc ta; lạc 5 héc ta; ngô: 15 héc ta; thầu dầu: 1 héc ta), có 160 gia đình tá điền.

Đồn điền của Công ty Canh nông Bắc Kỳ, còn gọi là đồn điền Cầu Lồ, đồn điền Sênhi, đồn điền Gila. Diện tích ban đầu là 1.264 héc ta, sau tăng lên 3.056 héc ta, trong đó có 750 héc ta trồng trọt (lúa 700 héc ta, thầu dầu 50 héc ta).

Đồn điền của Công ty Pháp vô danh thực dân địa Bắc Kỳ còn gọi là đồn điền Đờ Môngpơda, trải rộng ở nhiều làng. Khi mới thành lập, đồn điền này chỉ có 411 héc ta. Sau đó tăng lên trên 10 nghìn héc ta.

Đồn điền của Ủy ban Trung tâm Lục Nam có 69,7 héc ta ở Cương Sơn. Đồn điền Giăng Lơlăng có 18,1 héc ta ở Lạn Chàng trồng lúa.

Đồn điền Chũ, còn gọi là đồn điền Uyclê, có diện tích 1.455 héc ta.

Đồn điền Nguyễn Hữu Tiệp (đồn điền Cẩm Lý), lúc đầu có diện tích 1.816 héc ta, sau đó tăng lên hơn 3 lần, nằm rải rác ở nhiều làng xã trên đất Lục Nam.

Đồn điền Đỗ Thúc Phách, ở Từ Xuyên 314 héc ta, ở Vô Tranh 220 héc ta.

Sau này, các đồn điền được chuyển nhượng, mua đi bán lại, còn lại 6 đồn điền với diện tích là 19.922 héc ta, đó là: Đồn điền Đabrơmông (Lục Nam) 10.084 héc ta. Đồn điền Uyclê (Chũ); Đồn điền Sơnhi (Cầu Lồ); Đồn điền Nguyễn Kim Liên (Bến Bò); Đồn điền Đào Văn Mẫn (Yên Thiện).

Cuối năm 1940, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương, nhân dân ta phải chịu ách một cổ đôi tròng. Chúng đưa quân chiếm đóng một khu vực rộng lớn hàng ngàn héc ta bao quanh Cầu Lồ để xây dựng căn cứ đóng quân và sân bay, thuộc đất các làng: Tiên Nhược 157 mẫu đất, 47 mẫu ruộng; Đại Giáp 242,7 mẫu đất, 389 mẫu ruộng; Lan Mẫu 5,8 mẫu đất, 84,8 mẫu ruộng; Lao Hộ 101,3 mẫu đất, 263,1 mẫu ruộng; Phương Lạn 203 mẫu đất, 377 mẫu ruộng; Yên Thiện 45 mẫu đất, 76 mẫu ruộng, và một phần đất Cần Dinh, Hàn Lạc thuộc Lạng Giang.

Để có nhân công canh tác trong các đồn điền, chúng tổ chức tuyển mộ nông dân nghèo từ các tỉnh đồng bằng đến làm thuê.

Bao nhiêu đất đai mầu mỡ đã rơi vào các đồn điền. Bao nhiêu thân phận trở thành tá điền chỉ biết tuân theo mệnh lệnh, sống cuộc đời nghèo khó.

Mặc dù sống trên vùng đất giàu tài nguyên, nhân dân cần cù chịu khó nhưng do chính sách bóc lột tàn bạo của thực dân phong kiến, đời sống nhân dân lao động Lục Nam vô cùng cực khổ, nhất là trong những năm thiên tai tàn phá.

Từ khi phát xít Nhật nhảy vào nước ta, nhân dân địa phương càng bị bóc lột nặng nề và thậm tệ hơn. Năm 1943, bọn Nhật đã ra lệnh cho thực dân Pháp huy động 5 - 6 nghìn dân phu, liên tục ngày đêm xây dựng khu căn cứ Cầu Lồ và mở rộng sân bay Kép. Chúng còn bắt nông dân nhổ lúa trồng đay, trồng thầu dầu và thẳng tay vơ vét thóc gạo.

So với năm 1942, mức thuế thóc tạ năm 1943 tăng gần 7 lần, giá thu mua chỉ bằng 1/3 giá thị trường. Năm 1944, mức thu tăng lên 10 lần, giá chỉ còn 1/8. Chính sách vơ vét này làm cho hàng hóa ngày càng khan hiếm, nạn đầu cơ và chợ đen gia tăng, lũng đoạn thị trường. Một số tư sản lợi dụng tình hình đứng ra cân thóc tạ, làm đại lý diêm, vải, muối để kiếm lời. Đời sống nhân dân lao động vô cùng khó khăn, khổ cực do giá cả đắt đỏ. Tiểu thương bị chèn ép, đè nặng bởi các loại thuế. Phú nông và địa chủ nhỏ cũng bị ảnh hưởng do chính sách thu mua thóc tạ, nhổ lúa trồng đay.

Thực dân Pháp đã ra sức thi thố mọi chính sách, thủ đoạn để thắt chặt ách thống trị thực dân trên đất nước ta. Cơ cấu làng xã được sắp xếp lại, nhằm trói buộc người nông dân chặt hơn. Các hủ tục lạc hậu được khuyến khích phát triển để mê muội người dân, gây chia rẽ làng này với xóm khác, nhà này với họ kia, kích động người dân kiện cáo nhau để tranh thủ đục nước béo cò. Đời sống nhân dân lao động ngày càng nghẹt thở và tăm tối.

Lạc hậu, nghèo khổ luôn đè nặng lên nhân dân các dân tộc Lục Nam. Từ trong tối tăm và cảnh sống ngục tù ấy, truyền thống yêu nước kiên cường bất khuất của nhân dân các dân tộc Lục Nam không bị mai một mà không ngừng được hun đúc, sẵn sàng bùng lên, tỏa sáng khi có luồng gió mới thổi đến, đó là khi có đường lối cách mạng đúng đắn được vạch ra, phản ánh đúng tâm tư nguyện vọng sâu xa của người dân mất nước.

2. Phong trào đấu tranh cách mạng cua rnhân dân Lục nam dưới sự lãnh đạo của Đảng

Đầu năm 1928, Chi hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Phủ Lạng Thư­ơng ra đời đánh dấu mốc lịch sử quan trọng, bước phát triển mới của phong trào yêu n­ước ở Bắc Giang, phong trào đấu tranh của nhân dân Bắc Giang, hoà nhịp với trào l­ưu cách mạng mới trên cả n­ước.

Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên là nhanh chóng truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, phát triển và tổ chức nhiều tiểu tổ mới, hoạt động theo nội dung sách Đ­ường Kách mệnh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nhằm khẳng định con đ­ường giải phóng dân tộc đúng đắn của cách mạng Việt Nam, đấu tranh chống lại những khuynh hư­ớng tư­ t­ưởng phi vô sản, khẳng định vai trò cách mạng của giai cấp vô sản. Hư­ớng tuyên truyền, phát triển là tầng lớp thanh niên, học sinh yêu nư­ớc. Hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã có ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng trên toàn tỉnh Bắc Giang, tạo dững những cơ sở cho việc ra đời tổ chức Đảng.

Sau khi Đông Dư­ơng cộng sản Đảng đư­ợc thành lập (6-1929), đầu tháng 7-1929, đồng chí Ngô Gia Tự, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng đã thành lập Chi bộ cộng sản đầu tiên của Bắc Ninh - Bắc Giang. Tháng 8-1929, Đảng bộ Đông Dư­ơng Cộng sản Đảng Bắc Ninh – Bắc Giang thành lập.

Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu mốc vĩ đại trong tiến trình lịch sử dân tộc ta, kết thúc thời kỳ cách mạng Việt Nam khủng hoảng đường lối lãnh đạo. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đứng lên làm cách mạng, giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đưa dân tộc ta từ kiếp nô lệ thành người chủ nhân của đất nước. Sau ngày Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng bộ Đông Dư­ơng Cộng sản Đảng Bắc Ninh – Bắc Giang đổi thành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Bắc Ninh – Bắc Giang.

Dưới ánh sáng của Đảng, nhân dân các dân tộc Lục Nam đã sớm thức tỉnh, tham gia vào các phong trào đấu tranh cách mạng do Đảng phát động và lãnh đạo.

Với truyền thống yêu nước và cách mạng, một số nhóm thanh niên yêu nước sớm giác ngộ tư tưởng tiến bộ, chuyển từ lập trường cũ sang lập trường cách mạng vô sản, dần hình thành những cơ sở cách mạng đầu tiên trên địa bàn Lục Nam.

Đến năm 1930, có hai nhóm Việt Nam quốc dân Đảng (tổ chức yêu nước lúc đó). Một nhóm ở làng Và, Dìa (nay thuộc Đồng Phú) có 5 đảng viên. Một nhóm ở làng Đại Từ (xã Thép Thượng, tổng Chu Điện, phủ Lục Ngạn, nay thuộc xã Bảo Đài) có 3 đảng viên.

Sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại (đầu năm 1930), Việt Nam quốc dân Đảng bị tan rã hoàn toàn. Cả 8 đảng viên Việt Nam quốc dân Đảng ở ba làng Và, Dìa, Đại Từ đều bị bắt và bị chính quyền thực dân Pháp kết án tù từ 2 năm đến 20 năm.

Ông Nguyễn Văn Kiểm, đảng viên Việt Nam quốc Đảng ở Đại Từ bị kết án 5 năm tù và đày đi Sơn La. Tại đây, ông Kiểm được một số bạn tù là đảng viên cộng sản tuyên truyền, giác ngộ, đã từ bỏ lập trường tư sản của Việt Nam quốc dân Đảng, ngả theo lập trường vô sản.

Giữa năm 1936, ông Nguyễn Văn Kiểm được ra tù, nhưng bị quản thúc tại nhà (ở làng Đại Từ). Ông Kiểm tuy lúc này chưa là đảng viên cộng sản, nhưng rất nhiệt thành với chủ nghĩa cộng sản, ông đã tuyên truyền, giác ngộ cộng sản cho em trai là Nguyễn Văn Lục và anh con người bác là Nguyễn Văn Phú. Đây là nhóm thanh niên cách mạng có xu hướng cộng sản đầu tiên ở phủ Lục Ngạn.

Cũng trong thời gian cuối năm 1936 đầu năm 1937, hơn 20 đảng viên của hai tỉnh Bắc Ninh - Bắc Giang bị đế quốc giam giữ trong các nhà tù Côn Đảo, Sơn La đều lần l­ượt được trả tự do. Nhiều đồng chí đã về Bắc Giang bắt mối để trở lại hoạt động.

Trong năm 1937 - 1938, đồng chí Nguyễn Văn Lục thường liên hệ công tác với một số đảng viên cộng sản ở ấp Tam Sơn (huyện Lạng Giang) và các cơ sở ở thị xã Phủ Lạng Thương.

Từ năm 1936, phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân đòi tự do, dân sinh, dân chủ phát triển mạnh mẽ trên cả nước. hòa cùng cao trào cách mạng chung, phong trào cách mạng ở Bắc Giang b­ước vào một giai đoạn mới, trong đó Lục Nam là địa bàn có nhiều hoạt động mạnh mẽ.

Đầu năm 1937, các đồng chí ở Đại Từ đã tổ chức lấy chữ ký đòi thi hành những cải cách dân chủ gửi cho Gô đa - phái viên của Mặt trận nhân dân Pháp sang điều tra tình hình Đông Dương.

Nhằm chống lại chính sách văn hoá ngu dân của thực dân Pháp, cuối năm 1937, Đảng ta đề ra nhiệm vụ chống nạn thất học, vận động cụ Nguyễn Văn Tố – một trí thức lớn và có uy tín đứng ra lập Hội truyền bá quốc ngữ. Hư­ởng ứng chủ trư­ơng này, một số giáo viên và công chức đã đứng ra xin lập chi nhánh Hội truyền bá quốc ngữ tỉnh Bắc Giang. Phong trào nhanh chóng thu hút đ­ược các tầng lớp tham gia. Nhiều ngư­ời ủng hộ tiền, giấy, bút, mực hoặc cho m­ượn nhà làm địa điểm mở lớp học. Đầu năm 1938, Chi nhánh Hội truyền bá quốc ngữ tỉnh Bắc Giang được thành lập ở Phủ Lạng Thư­ơng. Đến giữa năm 1939, phong trào học chữ quốc ngữ lan tới Chũ (Lục Ngạn) và nhiều nơi khác.

Ngày 1-5-1938, Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức một cuộc mít tinh lớn ở khu Đấu Xảo, Hà Nội. Đồng chí Hoàng Quốc Việt đã tổ chức đoàn đại biểu Bắc Giang đi dự cuộc mít tinh kỷ niệm. Thành phần chủ yếu trong đoàn là thanh niên Phủ Lạng Thư­ơng, một số đại diện nông dân ấp Tam Sơn (Lạng Giang), Đại Từ, Thép Thư­ợng (Lục Ngạn). Đồng chí Nguyễn Văn Lục là một thành viên trong đoàn đại biểu này. Những khẩu hiệu trong cuộc mít tinh là “Đi tới Mặt trận dân chủ Đông Dư­ơng”, “Ủng hộ Mặt trận Bình dân Pháp”, “Tự do nghiệp đoàn”, “Tr­ường học cho mọi người”, “Chống nạn thất nghiệp, chống nạn sinh hoạt đắt đỏ”… khí thế của hàng vạn quần chúng đã cổ vũ và củng cố niềm tin cho mọi ng­ười trong đoàn.

Tháng 7-1938, d­ưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Hoàng Quốc Việt, cơ quan liên lạc phong trào dân chủ của tỉnh Bắc Giang đ­ược thành lập đặt tại thị xã Phủ Lạng Thương. Nhiều đồng chí chính trị phạm sau khi ra tù đã về đây bắt liên lạc để tiếp tục hoạt động. Từ đây, một số cán bộ được phân công đi củng cố cơ sở ở Đại Từ, Thép Thư­ợng,…

Cũng trong giữa năm 1938, đồng chí Hoàng Quốc Việt về nhà đồng chí Lục ở Đại Từ, vừa để tránh sự theo dõi của mật thám Pháp vừa tuyên truyền, gây dựng cơ sở cách mạng trong vùng. Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Hoàng Quốc Việt, cuối năm 1938, một cuộc họp đã được tổ chức ở Đại Từ để bàn việc thành lập Chi bộ Phủ Lạng Thương.

Chi bộ Phủ Lạng Thư­ơng được thành lập là kết quả hoạt động kiên cường, bất khuất, v­ượt qua nhiều thử thách, hy sinh của lớp chiến sỹ cộng sản đầu tiên, là sự giúp đỡ, dìu dắt của nhiều cán bộ Trung ­ương đối với một địa phư­ơng có vị trí chiến lư­ợc. Chi bộ Đảng Phủ Lạng Thư­ơng ra đời là một bư­ớc ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng. Trong điều kiện tình hình Bắc Giang chư­a có Ban Cán sự Tỉnh, Chi bộ Phủ Lạng Th­ương đã đảm nhiệm nhiệm vụ lãnh đạo phong trào cách mạng của cả tỉnh trong những năm 1938-1939.

Sau khi Chi bộ Phủ Lạng Thương thành lập, cuối năm 1938 đồng chí Nguyễn Văn Lục được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Đầu năm 1939, đồng chí Trịnh Đình Lan, (tức Lan Cường) người làng Đọ (nay thuộc xã Cương Sơn) được đồng chí Hồ Công Lạng tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Từ làng Đọ, đồng chí Lan Cường phát triển cơ sở xuống phố Lục Nam. Người đầu tiên được đồng Lan Cường giác ngộ là đồng chí Nguyễn Văn Kinh, sau đó là một số thanh niên là võ sinh của đồng chí Lan Cường.

Ở Đại Từ, tiếp sau ba anh em trong gia đình đồng chí Nguyễn Văn Lục, một số thanh niên trong làng được giác ngộ, tích cực tham gia phong trào cách mạng.

Như vậy, Lục Nam trở thành địa phương sớm có cơ sở Đảng của tỉnh Bắc Giang. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các đồng chí cán bộ cấp trên và cơ sở Đảng, nhân dân các dân tộc Lục Nam tích cực tham gia các phong trào đấu tranh cách mạng, chuẩn bị lực lượng mọi mặt cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Đồng thời với hoạt động gây dựng và phát triển cơ sở, các đồng chí đảng viên và quần chúng cốt cán đã tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, mở rộng ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng nhân dân, như mít tinh, treo cờ Đảng, rải truyền đơn ở nhiều nơi.

3. Chuẩn bị lực lượng, đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân trong Cách mạng tháng Tám năm 1945

Giữa lúc cách mạng Việt Nam đang phát triển thì bóng đen chiến tranh thế giới do khối phát xít Đức - Ý - Nhật gây ra phủ kín bầu trời. Chính sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ Pháp ngày càng phản động hơn. Bọn thực dân ở Đông D­ương tăng c­ường áp bức, đàn áp, khủng bố cách mạng. Đời sống nhân dân ngày càng khó khăn.

Ngày 10-3-1939, Trung ­ương Đảng ra Thông báo khẩn cấp kêu gọi toàn Đảng lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống khủng bố, đòi tự do dân chủ, mở rộng chế độ tuyển cử, đòi ân xá chính trị phạm và cải thiện đời sống nhân dân.

H­ưởng ứng Thông báo khẩn cấp của Trung ­ương, cuối tháng 4-1939,  tại Cầu Trình (nay thuộc xã Bảo Đài), một cuộc mít tinh lớn được tổ chức với hơn 400 người tham dự để phản đối những hành động khủng bố của bọn phản động thuộc địa, đòi ban hành các quyền tự do dân chủ, cải thiện sinh hoạt cho dân chúng, mở rộng chế độ tuyển cử, ân xá chính trị phạm. Tại cuộc mít tinh, một cán bộ đứng lên diễn thuyết lên án bọn phản động thuộc địa và hô hào quần chúng đấu tranh đòi thả hết nhân viên tòa soạn báo Dân Chúng, đòi tự do lập hội, giảm thuế, tăng tiền công cấy, công cày.

Cũng trong thời gian này, các cơ sở của Đảng tổ chức rải truyền đơn, dán áp phích ở chợ Buộm, chợ Đồn làng Thanh Rã, đòi giảm thuế, chống bọn cường hào áp bức, bóc lột nhân dân.

Cuối năm 1939, các đồng chí tổ chức treo cờ đỏ búa liềm tại Trường tiểu học và Nhà đoan phố Lục Nam, đồng thời rải truyền đơn từ bến phà Lục Nam đến cầu Đầng. Tức tối trước các hoạt động tuyên truyền cách mạng, Tri phủ Lục Ngạn và Tuần phủ Bắc Giang đã cho lính đi lùng sục, khám xét, nhưng không tìm ra tung tích người treo cờ. Chúng bắt giam một người tình nghi làm nghề buôn bán nhỏ ở phố Lục Nam. Nhưng không tìm được chứng cứ, buộc phải thả.

Truyền đơn phản đối chiến tranh, hô bào dân chúng đứng lên đánh đổ bọn thống trị nhân ngày niệm Cách mạng tháng Mười Nga (7 - ll -  1939).

Ngày 1-9-1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Sau khi tham chiến, Chính phủ Pháp thi hành chính sách phản động, đàn áp các lực l­ượng cộng sản và tiến bộ ở trong n­ước và các thuộc địa.

Ở Đông Dư­ơng, thực dân Pháp điên cuồng tiến công Đảng Cộng sản và các đoàn thể quần chúng do Đảng thành lập. Một số quyền tự do, dân chủ giành đ­ược trong thời kỳ 1936-1939 bị thủ tiêu. Nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt giam. Hàng vạn thanh niên bị bắt đi lính sang Pháp làm bia đỡ đạn.

Để huy động sức người sức của cho cuộc chiến, thực dân Pháp tăng thuế, tr­ưng thu, tr­ưng dụng các xí nghiệp t­ư nhân cho quốc phòng; kiểm soát gắt gao xuất nhập khẩu. Trừ bọn tay sai của Pháp, địa chủ lớn và t­ư sản mại bản, tất cả các giai cấp và tầng lớp trong xã hội Việt Nam đều bị ảnh hư­ởng bởi chính sách phản động của đế quốc Pháp.

Do sớm dự báo chiến tranh thế giới sẽ nổ ra, Đảng ta không bị bất ngờ và đã có chủ tr­ương, h­ướng dẫn các tổ chức Đảng hoạt động phù hợp khi chiến tranh nổ ra. Các cơ sở Đảng và các cơ sở cách mạng đã mau chóng chuyển vào hoạt động bí mật. 

Chiến tranh thế giới thứ hai là một thử thách lớn đối với dân tộc Việt Nam. Hai tháng sau khi chiến tranh bùng nổ, ngày 6 - 11 - 1939, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương họp tại Bà Điểm (Hóc Môn, nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh), do đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Tổng bí thư của Đảng chủ trì. Hội nghị đã phân tích tình hình trong nước và quốc tế, quyết định đặt sự nghiệp giải phóng dân tộc là nhiệm vụ cấp bách nhất.

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đó, Đảng đặt nhiệm vụ chuẩn mọi mặt cho cuộc khởi nghĩa vũ trang để chớp thời cơ, biến chiến tranh đế quốc thành chiến tranh cách mạng, để đánh đổ chính quyền của đế quốc và bọn tay sai, thành lập chính quyền cách mạng.

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp từ ngày 6 đến 9-11- 1940, tại làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh), khẳng định sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 11 – 1939 là đúng đắn và nhận định kẻ thù của cách mạng Việt Nam lúc này là phát xít Pháp - Nhật.

Hội nghị xác định mục tiêu chiến l­ược tr­ước mắt của cách mạng là đánh đổ đế quốc và tay sai, làm cho Đông D­ương hoàn toàn độc lập; quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông D­ương,… D­ưới ánh sáng của Nghị quyết Trung ương, các tổ chức cách mạng ở các địa phương, đã chuyển sang hoạt động theo hình thức và nội dung mới.

Đảng ta đã rút vào hoạt động bí mật, chuyển trọng tâm công tác về nông thôn, cán bộ đảng viên của Đảng lần lượt rút vào bí mật và chuyển hướng hoạt động.

Từ giữa năm 1939, đồng chí Lê Hoàng được Xứ ủy Bắc Kỳ cử về phụ trách hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang. Đồng chí Lê Hoàng tập trung chỉ đạo củng cố tổ chức Đảng và cơ sở quần chúng, chuẩn bị các điều kiện để Đảng rút vào hoạt động bí mật, đồng thời xây dựng một hệ thống cơ sở cách mạng làm đ­ường liên lạc của Trung ­ương và Xứ uỷ Bắc Kỳ lên biên giới phía Bắc. Lục Nam trở thành một mắt xích trọng yếu trên tuyến liên lạc của Xứ ủy và Trung ­ương. Các cơ sở quần chúng cốt cán đư­ợc xây dựng và củng cố.

Các đồng chí đã đến cơ sở Đại Từ, trao đổi công tác với đồng chí Nguyễn Văn Lục và các đồng chí khác ở đây. Sau đó, đồng chí Phạm Văn Đông (tức Kỳ Vân) được Xứ ủy cử về phụ trách phong trào tỉnh Bắc Giang thay đồng chí Lê Hoàng. Đồng chí Phạm Văn Đông đã chắp mối liên lạc với đồng chí Lục, đồng chí Kiểm ở Đại Từ, đồng chí Lan Cường ở Đọ.

Cuối năm 1940, các đồng chí Trần Quốc Thuân (tức Thụy), Chu Đình Xương (tức Khôi) được cử đến Lục Ngạn hoạt động. Đồng chí Thuân liên lạc với các cơ sở ở Đại Từ, đồng chí Khôi liên lạc với cơ sở làng Đọ và gây thêm cơ sở mới vào một số người có họ hàng với đồng chí Khôi ở làng Thanh Giã, nơi có nhiều đồng bào theo Đạo Thiên chúa.

Cũng cuối năm 1940, cơ quan in ấn của Trung ương đã chuyển về đặt tại nhà đồng chí Nguyễn Văn Lục ở Đại Từ. Đến đầu năm 1941, cơ sở in ấn bị lộ, mật thám đến lùng sục, bắt hai đồng chí Kiểm và Lục (sau chúng thả đồng chí Lục, giữ lại đồng chí Kiểm), cơ quan in ấn của Đảng phải rời đi nơi khác.

Song song với công tác tuyên truyền, mở rộng cơ sở, các đồng chí cán bộ cấp trên chú trọng công tác phát triển Đảng. Đầu năm 1940, đồng chí Lan Cường được đồng chí Hồ Công Lạng kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Vì cả khu vực Cương Sơn và phố Lục Nam chỉ có một đảng viên nên đồng chí Lan Cường trực tiếp liên hệ, nhận nhiệm vụ với đồng chí Hồ Công Lạng. Khi đồng chí Hồ Công Lạng chuyển đi hoạt động ở nơi khác, đồng chí Phạm Văn Đông về thay, đồng chí Lan Cường nhận nhiệm vụ do đồng chí Đông giao.

Cuối năm 1940, hai đồng chí Nguyễn Văn Kiểm và Nguyễn Văn Phú đuợc đồng chí Nguyên Văn Lục kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và tổ chức ra Chi bộ Đại Từ do đồng chí Nguyễn Văn Lục làm Bí thư.

Chi bộ Đại Từ đã tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, mít tinh kỷ niệm Cách mạng tháng Mười Nga (7 - ll -1940) ở xứ đồng Bàn Ô, rải truyền đơn, dán áp phích ở chợ Buộm, chợ Thanh Giã, phố Lục Nam…

Chiến tranh thế giới lan rộng, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dư­ơng (22 - 9 - 1940), quân Pháp bỏ chạy, nhân dân Bắc Sơn đã đứng lên khởi nghĩa.

Khi cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ (27 - 9 - 1940), Khởi nghĩa Nam Kỳ (23 - 11 - 1940) nổ ra, Chi bộ Đại Từ đã tổ chức nhiều hoạt động hưởng ứng, ủng hộ các cuộc khởi nghĩa. Chi bộ đã tổ chức vận động nhân dân quyên góp tiền, gạo, quần áo, tổ chức rèn dao, kiếm gửi tặng du kích Bắc Sơn.

Đầu năm 1941, đồng chí Nguyễn Văn Kiểm bị bắt, đồng chí Lục đi thoát ly, Chi bộ Đại Từ tạm thời không còn.

Như vậy, đến đầu năm 1941, cơ sở cách mạng, cơ sở Đảng có ở hai nơi: làng Đại Từ và làng Đọ. Cả hai nơi này, cơ sở quần chúng cách mạng đều mỏng, số lượng đảng viên ít, nhưng đó là những hạt giống đỏ đầu tiên được gieo trên đất Lục Nam, từ đây ánh sáng cách mạng đã tỏa rộng ra toàn vùng.

Giữa lúc bão táp cách mạng đang lên cao thì lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, từ nước ngoài trở về trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước.

Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương (tháng 5-1941), tại Pác Bó (Cao Bằng) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì, đã hoàn chỉnh đ­ường lối gi­ương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc; quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh); xác định chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân.

Ngày 19 - 5 - 1941, Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương đổi tên thành Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, bao gồm các tổ chức quần chúng yêu nước chống đế quốc lấy tên là hội Cứu quốc. Mục tiêu là động viên tinh thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân, tập hợp mọi lực lượng và cá nhân yêu nước vào một mặt trận dân tộc rộng rãi nhằm đánh đổ Nhật - Pháp và bè lũy tay sai, giành độc lập dân tộc.

Chương trình cứu nước của Mặt trận Việt Minh gồm 2 điểm lớn:

1 – Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập.

2 – Làm cho nhân dân Việt Nam được sung sướng, tự do.

Sau Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương, lãnh tu Nguyễn Ái Quốc kêu gọi toàn dân:

“Hỡi đồng bào yêu quý!

Hãy kíp đứng lên! Tổ chức hội cứu quốc chống Pháp chống Nhật. Giờ đây công việc giải phóng dân tộc là cao hơn tất cả. Chúng ta phải đoàn kết lại, đánh đổ Pháp, Nhật và tay sai của chúng, để cứu dân ta khỏi vòng nước sôi, lửa bỏng.

Hỡi các chiến sĩ cách mạng!

Thời cơ đã đến! Hãy giương cao cờ khởi nghĩa, lãnh đạo nhân dân đánh đổ Pháp, Nhật”[2].

Nghị quyết Trung ương đã nhanh chóng được phổ biến tới các địa phương trong cả n­ước, thúc đẩy phong trào cách mạng tiến tới cao trào. Việc thành lập Mặt trận Việt Minh ở các cơ sở càng khẩn trư­ơng, công tác tuyên truyền và huấn luyện được đẩy mạnh. Các đồng chí cán bộ của tỉnh, của cấp trên hoạt động ở địa phư­ơng đẩy mạnh việc mở các lớp huấn luyện về Ch­ương trình, Điều lệ của Mặt trận Việt Minh, giúp các cơ sở xây dựng đoàn thể cứu quốc: Thanh niên cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, tuyên truyền, giác ngộ quần chúng có cảm tình với cách mạng, mở rộng cơ sở nuôi giấu, bảo vệ cán bộ, bảo vệ các hoạt động cách mạng.

Từ ngày 26 đến 29 - 9 - 1941, Xử uỷ Bắc Kỳ tổ chức Hội nghị cán bộ ở làng Dương Húc (huyện Tiên Du) để nghe đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng phổ biến Nghị quyết Trung ương 8. Đồng chí Nguyễn Văn Lục phụ trách tỉnh Bắc Giang tham dự hội nghị này.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương tám và Nghị quyết của Xứ uỷ Bắc Kỳ, các tổ chức phản đế của tỉnh Bắc Giang đã chuyển thành các tổ chức cứu quốc.

Đầu năm 1942, Ban Cán sự Đảng tỉnh Bắc Giang chủ trương củng cố lại những cơ sở bị địch khủng bố ở làng Đại Từ và làng Đọ, xây dựng Mặt trận Việt Minh, phát triển các đoàn thể cứu quốc, từng bước đưa quần chúng ra đấu tranh.

Tháng 3-1943, Ban Cán sự Đảng tỉnh Bắc Giang cử đồng chí Nguyễn Kim Tiến (tức Mầu) về phụ trách khu vực Lục Ngạn. Đồng chí Nguyễn Kim Tiến đến bắt liên lạc với đồng chí Lan Cường (do địch khủng bố, đồng chí Lan Cường mất liên lạc với Đảng). Được đồng chí Nguyễn Kim Tiến đến bắt mối, giao nhiệm vụ, đồng chí Lan Cường tiếp tục hoạt động. Sau một thời gian ngắn, đồng chí Lan Cường đã giới thiệu với đồng chí Nguyễn Kim Tiến một số quần chúng có cảm tình với cách mạng. Đồng chí Nguyễn Kim Tiến đã thành lập tổ Việt Minh làng Đọ. Từ Đọ phát triển cơ sở xuống phố Lục Nam, bắt mối vào các đồng chí Vũ Bằng (tức Phương Minh Nam, Khổng Đình Hạp (tức Hiền), Nguyễn Trọng Quang, và lập ra tổ chức Việt Minh ở đây, lấy Hiệu may Minh Tần làm nơi gặp gỡ, giao nhận sách báo, truyền đơn, công văn, tài liệu,…

Tháng 5-1943, đồng chí Vũ Bằng đưa đồng chí Nguyễn Kim Tiến vào làng Gàng (xã Vô Tranh) gặp đồng chí Lê Bá Ước (tức Lư Giang). Tại làng Gàng, đồng chí Nguyễn Kim Tiến đã tổ chức được một tổ Việt Minh. Từ đây, các đồng chí gây dựng cơ sở, giác ngộ quần chúng, lập ra các tổ chức quần chúng cứu quốc: Thanh niên cứu quốc (có 5 người), Phụ nữ cứu quốc (3 người), Phụ nữ cứu quốc (6 người), Thiếu niên cứu quốc (8 em).

Tháng 10 - 1943, đồng chí Nguyễn Kim Tiến được Xứ uỷ giao nhiệm vụ đến làng Đại Từ gặp đồng chí Nguyễn Văn Lục để chắp lại mối với các cơ sở ở làng Đại Từ mất liên lạc với tổ chức, nằm im sau đợt bị khủng bố năm 1941. Đồng chí Nguyễn Kim Tiến đã bắt mối được với các đồng chí Tống Hồng Sa, Tống Hồng Thuật ở Tiên Hưng; không bắt được liên lạc với đồng chí Nguyễn Văn Lục.

Trong những năm 1942, 1943, ở phố Lục Nam và làng Đọ, tổ chức thanh niên Pêtanh đã tập hợp một số thanh niên tham gia và đã có một số hoạt động yêu nước như cắm trại, diễn kịch ở đình Đọ, đình Nguộn, đình Tè (nay thuộc xã Cương Sơn),… Nội dung các vở kịch đả kích bọn cường hào, địa chủ, đả phá những tập tục lạc hậu trong xã hội, hát những bài ca yêu nước nhằm thức tỉnh nhân dân trước hết là thanh niên đứng lên đấu tranh.

Sau khi phong trào thanh niên Pêtanh lắng xuống, bọn thống trị lại khởi xướng phong trào thể dục thể thao để lôi kéo, ru ngủ thanh niên, để lãng quên lý tưởng cách mạng.

Tổ chức cách mạng đã đưa người vào phong trào này, tổ chức học võ, tập bơi,… để rèn luyện sức khoẻ, từ đó tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho anh em.

Giữa năm 1944, cơ sở Việt Minh ở phố Lục Nam và làng Đọ đã tổ chức diễn lại sự kiện lịch sử Trần Hưng Đạo đánh quân Nguyên trên sông Bạch Đằng nhằm thức tỉnh truyền thống dân tộc, cổ vũ lòng yêu nước, ý chí bất khuất của nhân dân. Cuộc diễn tập được tổ chức vào dịp hội đền Kiếp Bạc, tại đoạn sông từ phố Lục Nam xuống làng Chàng. Cơ sở cách mạng đã huy động hàng chục thuyền, hàng trăm thanh niên tham gia cuộc diễn tập này. Đến xem cuộc diễn tập có tới ba, bốn trăm người phố Lục Nam và nhiều làng xã lân cận. 

Song song với công tác xây dựng và mở rộng cơ sở, các đồng chí cán bộ cấp trên về hoạt động trên địa bàn Lục Nam đã cùng các đồng chí đảng viên lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống lại chính sách áp bức, bóc lột của phát xít Nhật - Pháp.

Từ khi nhảy vào xâm lược Đông Dương, để có nguyên liệu cung cấp cho nhu cầu chiến tranh, phát xít Nhật ra sức cưỡng bức nhân dân ta phá lúa, hoa màu để trồng đay và thầu dầu. Đầu năm 1943, phát xít Nhật bắt nhân dân một số xã phá lúa trồng đay. Được cán bộ Việt Minh giải thích, vận động, nhân dân vùng Cương Sơn phản đối, không chịu trồng đay cho Nhật. Ở Lan Mẫu, nhân dân tập trung kéo vào đồn Nhật đòi gặp chỉ huy để phản đối. Trước khí thế đấu tranh của quần chúng, quân Nhật ở Khu quân sự Cầu Lồ đã phải bãi bỏ lệnh bắt dân phá lúa trồng đay.

Năm 1943, phát xít Nhật chiếm hàng trăm héc ta ruộng đất của nông dân để xây dựng Khu quân sự Cầu Lồ (thuộc hai xã Lan Mẫu và Phương Sơn). Tháng 8-1944, Ban Cán sự Đảng tỉnh Bắc Giang đã tổ chức rải truyền đơn, kêu gọi nhân dân khu vực Cầu Lồ đấu tranh chống Nhật chiếm ruộng đất, đòi bồi thường thiệt hại về nhà cửa, hoa màu, vận động nhân dân không đi phu cho chúng. Hưởng ứng chủ trương của Ban Cán sự Đảng tỉnh, nhân dân các làng xung quanh Khu quân sự Cầu Lồ đã kiên quyết đấu tranh chống phát xít Nhật, giữ ruộng đất, ngăn cản việc xây dựng khu quân sự của địch. Hàng trăm phu làm ở Khu quân sự Cầu Lồ đã bỏ trốn.

Lúc này, cơ sở Việt Minh đã phát triển rộng khắp ở nhiều địa phương trong tỉnh Bắc Giang. Để khuếch trương thanh thế của Việt Minh hơn nữa, nhân ngày hội đền Kiếp Bạc năm 1944, Ban Cán sự Đảng tỉnh Bắc Giang quyết định tổ chức một cuộc tuyên truyền tại khu vực đền Kiếp Bạc.

Theo kế hoạch, cuộc tuyên truyền xung phong, rải truyền đơn, dán áp phích ở đền Kiếp Bạc nhân ngày hội hàng năm (6-10-1944). Đoàn của Lục Ngạn đi rất đông, do đồng chí Nguyễn Kim Tiến phụ trách. Đoàn người xuất phát từ phố Lục Nam, xuôi thuyền theo sông Lục Nam về Kiếp Bạc. Mọi người cải trang thành khách trảy hội, dưới đáy thuyền giấu truyền đơn, áp phích, có những tấm mía để vừa làm “gậy” vừa làm ám hiệu.

Theo chủ trương của Ban Cán sự tỉnh, ta tổ chức diễn thuyết ở ba địa điểm: Nam Tào, Bắc Đẩu và Đền chính, đồng thời rải truyền đơn, dán áp phích ở khu vực đền và những nơi tập trung đông người. Đoàn Lục Ngạn được phân công diễn thuyết tại Bắc Đẩu. Nhưng hôm đó lính Nhật và lính khố xanh kéo đến rất đông, việc diễn thuyết không thực hiện được. Các tổ công tác được lệnh chỉ rải truyền đơn và dán áp phích. Truyền đơn được rải đồng loạt khắp các khu vực trong đền, cài vào các khay đồ lễ, trao tay cho khách trẩy hội, ném xuống các khoang thuyền đang đậu ở bến, dúi vào túi áo, túi quần một số lính khố xanh. Các hoạt động diễn ra bất ngờ đã làm cả khu vực lễ hội huyên náo, binh lính địch hoảng loạn, bị động đối phó. Quần chúng phấn khởi, vui mừng, bàn tán xôn xao về tin Việt Minh rải truyền đơn, dán áp phích ở Đền Kiếp Bạc. Sự kiện này được truyền đi khắp nơi, đã gây một tiếng vang lớn, thanh thế của lực lượng cách mạng lên cao.

Tháng 11-1944, đồng chí Hoàng Hà Châu (tức Hoàng Quốc Thịnh) về thay đồng chí Nguyễn Kim Tiến phụ trách khu vực Lục Ngạn. Các cơ sở Việt Minh các làng xã tiếp tục được mở rộng, thu hút ngày càng đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.

Từ khi Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị "Sửa soạn khởi nghĩa” (tháng 5-1944), Đảng ra lời kêu gọi "Sắm vũ khí, đuổi thù chung” (tháng 8-1944),  nhất là từ khi lãnh tụ Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào cả nước (tháng 10-1944) nói rõ: "Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các nước Đồng minh sắp tranh được thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ trong một năm hoặc năm rưỡi. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh”[3].

Nhân dân các làng xã hăng hái góp tiền mua sắm vũ khí, củng cố và phát triển các đội tự vệ, đẩy mạnh việc huấn luyện quân sự. Tháng 11-1944, Ban Cán sự Đảng tỉnh Bắc Giang giới thiệu 5 chiến sỹ cứu quốc quân về làng Gàng để huấn luyện và xây dựng lực lượng vũ trang. Năm đồng chí cứu quốc quân chia nhau đi gây cơ sở và tổ chức lực lượng tự vệ ở làng Gàng (Vô Tranh), Dùm, Quỷnh (Nghĩa Phương),...

Từ cuối năm 1944, Chiến tramh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Hồng quân Liên Xô mở các cuộc tấn công vũ bão, lần lượt giải phóng các nước Trung-Đông Âu.

Ở Đông Dương, trước những biến chuyển mới của cuộc chiến tranh. đúng như Đảng ta đã dự đoán từ lâu: tình trạng tạm thời hòa hoãn giữa phát xít Nhật và thực dân Pháp đã chấm dứt, mâu thuẫn giữa chúng ngày càng gay gắt, cái nhọt bọc đó đã đến ngày vỡ bung ra.

Tám giờ tối 9-3-1945, quân Nhật nổ súng tấn công quân Pháp, độc chiếm toàn cõi Đông Dương. Quân Pháp chống cự yếu ớt và nhanh chóng đầu hàng.

Sau khi lật đổ Pháp, phát xít Nhật thi hành chính sách hết sức tàn bạo nhằm xiết chặt hơn nữa ách nô dịch của chúng với nhân dân Việt Nam.

Ở phủ Lục Ngạn, bộ máy thống trị của thực dân Pháp được Nhật duy trì gần như nguyên vẹn. Chúng lập thêm một đội lính bảo an tập trung, do Lý Chắc Sần chỉ huy (Lý Chắc Sần là người Hoa ở xã Tiên Nha). Bọn Đại Việt và các nhóm Việt gian thân Nhật rêu rao: “Việt Nam đã được Nhật trao độc lập” và không tiếc lời ca ngợi lòng “chân thành” của phát xít Nhật với nhân dân Việt Nam, phết một lớp sơn che dấu bộ mặt thật của nền độc lập giả hiệu.

Để đánh tan những nhận thức mơ hồ của một số người còn tin vào giọng lưỡi bịp bợm của phát xít Nhật và tay sai, tổ chức Việt Minh và các đảng viên trên địa bàn đã kiên trì giải thích cho quần chúng thấy chính sách của Nhật là kết hợp thủ đoạn tàn bạo và lừa phỉnh để cướp bóc về kinh tế, chia rẽ về chính trị, tiến công về quân sự. Đối với kẻ xâm lược, chỉ có một con đường duy nhất, một thái độ dứt khoát là toàn dân một lòng cầm vũ khí đứng lên đánh đuổi phát xít Nhật và tay sai.

Ngay đêm Nhật đảo chính Pháp, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng ở Đồng Kỵ (sau chuyển về Đình Bảng) để nhận định, phân tích tình hình sau khi Nhật độc chiếm Đông Dương và ngày 12-3-1945 đã ra bản Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Hội nghị nhận định là cuộc đảo chính đêm 9-3 đã tạo nên một tình hình khủng hoảng chính trị sâu sắc, làm cho điều kiện của cuộc khởi nghĩa chóng chín muồi. Đối tượng của cách mạng Việt Nam lúc này là phát xít Nhật. Khẩu hiệu của cách mạng lúc này là đánh đuổi phát xít Nhật, thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân”. Hội nghị quyết định phát động một cao trào chống Nhật, cứu nước trong toàn quốc, làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa và đặc biệt nhấn mạnh việc giáo dục tư tưởng phải trông vào lực lượng của bản thân ta là chính để giành thắng lợi cho cách mạng. Bản Chỉ thị là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của nhân dân ta trong cao trào kháng Nhật cứu nước, có tác dụng quyết định đối với thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa.

Ngày 18-3-1945, Ban Cán sự Đảng tỉnh Bắc Giang họp để nghiên cứu Chỉ thị của Thường vụ Trung ương, bàn kế hoạch khởi nghĩa từng phần, giải quyết nạn đói, giữ gìn trật tự an ninh trong tỉnh.

Từ tháng 3-1945, trong lúc cao trào kháng Nhật cuồn cuộn dâng lên khắp mọi miền đất nước, thì nạn đói khủng khiếp do Nhật - Pháp và địa chủ phong kiến gây ra đã làm trên hai triệu dân nghèo các tỉnh Bắc Bộ chết đói thảm thương. Người dân Lục Ngạn lúc đó cũng cùng chung số phận, đặc biệt là các xã vùng chiêm trũng. Người dân thiếu ăn từ nhiều nơi đến các làng xã xin ăn. Hầu như làng nào cũng có người đói và chết đói, nhất là chợ Chàng (chợ Lục Nam) nơi lập trung nhiều ăn mày, ăn xin nên hàng ngày cũng có nhiều người chết đói.

Trước tình cảnh nạn đói diễn ra nghiêm trọng, Đảng chủ trương phát động nhân dân phá kho thóc của Nhật để cứu đói cho nhân dân. Khẩu hiệu “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói" do Đảng đề ra đã đáp ứng nguyện vọng cấp bách nhất của nhân dân lúc này, đã thúc đẩy mạnh mẽ quần chúng vùng dậy. Ngày 7-4-1945, tự vệ làng Gàng làm nòng cốt cùng hàng trăm quần chúng trong vùng, tiến đến phá kho thóc Bến Bò (xã Vô Tranh) của địa chủ Hàn Lâm. Gần 800 tấn thóc ở trong kho đã được chia cho dân nghèo.

Ngày 13-4-1945, ta tổ chức phá kho thóc Cẩm Lý thuộc đồn điền Nguyễn Hữu Tiệp lấy gần 600 tấn thóc. Tiếp sau đó, phá kho thóc đồn Chản (Yên Sơn), đồn điền Tham Thu (Bảo Đài),... tịch thu hàng trăm tấn thóc chia cho dân nghèo. Qua phong trào phá kho thóc, giải quyết nạn đói, lực lượng tự vệ và nhân dân đã được tập dượt đấu tranh, đoàn kết trong các hội cứu quốc của Việt Minh.

Để đẩy mạnh hơn nữa quá trình chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa, giữa tháng 3-1945, Ban Cán sự Đảng tỉnh Bắc Giang cử đồng chí Chu Đốc, cán bộ quân sự, đồng chí Hồ Công Lạng cán bộ chính trị về Lục Ngạn, tháng 5-1945, Xứ ủy cử thêm đồng chí Nguyễn Đức Quỳ cán bộ chính trị, về mở các lớp huấn luyện chính trị ở Dùm, Quỷnh cho hàng chục cán bộ cơ sở và hội viên cứu quốc.

Đồng chí Chu Đốc mở ở làng Gàng 2 lớp huấn luyện quân sự, ở Quỷnh 2 lớp, ở Dùm 1 lớp, Di Chanh 1 lớp. Sau đó, đồng chí Chu Đốc lên mở lớp ở vùng Thanh Giã, Bảo Sơn.

Hầu hết các làng có cơ sở Việt Minh đều xây dựng các đội tự vệ thoát ly hoặc bán thoát ly. Phong trào xây dựng đội tự vệ phát triển mạnh mẽ ở các làng xã. Trong đó, đội tự vệ làng Gàng tập luyện tích cực, được trang bị vũ khí thô sơ.

Ở Nghĩa Phương, lực lượng tự vệ làng Dùm có 40 người, làng Quỷnh 30 người, làng Ngạc 30 người. Ở những nơi này, sau ngày đảo chính Pháp (9-3-1945), Nhật đã phát súng cho lính bảo an, lính dõng. Ta đưa tự vệ tham gia vào các tổ chức này để hoạt động hợp pháp.

Cơ sở Việt Minh từ một số làng, xã đã lan rộng ra hầu khắp các làng xã, tập hợp đông đảo quần chúng tham gia các hoạt động chuẩn bị khởi nghĩa do Việt Minh lãnh đạo. Khi phong trào cách mạng lên cao, một số hào lý đã ngả theo cách mạng, gia nhập Việt Minh hoặc các đoàn thể cứu quốc, một số không tham gia nhưng cũng ủng hộ tiền, gạo,... còn một số ít làm tay sai cho Nhật, đàn áp phong trào cách mạng.

Đối với bọn phản động gian ác, ta kiên quyết trừng trị để răn đe các nhóm phản động làm tay sai cho Nhật. Điển hình là vụ đâm cảnh cáo Tiên Mười ở phố Lục Nam (chủ trương chỉ đâm bị thương). Hai đồng chí là thanh niên cứu quốc ở làng Đọ được giao nhiệm vụ này. Vào đúng ngày chợ Giàng, hai đồng chí thực thi nhiệm vụ được giao. Sau khi đâm Tiên Mười bị thương, hai đồng chí Hoàng và Chuyên chạy thẳng vào phủ đường Lục Ngạn tự thú như kế hoạch đã bàn. Tiếp sau đó, tổ chức bắt Lý Niết (tức Đỗ Văn Phiên ở làng Sàn, xã Phượng Sơn). Giữa ban ngày, ba đồng chí Hạp, Chính, Mai (là thanh niên cứu quốc ở phố Lục Nam) đóng giả sĩ quan và thông ngôn cho Nhật vào nhà bắt Lý Niết. Ngoài ra, lực lượng Việt Minh tiến hành trừng trị, cảnh cáo một số tên phản động thân Nhật có nhiều nợ máu với nhân dân ở địa phương. Các hoạt động trừng trị và cảnh cáo bọn phản động gian ác, nhất là vụ bắt Lý Niết giữa ban ngày đã gây tiếng vang lớn, phong trào Việt Minh ở vùng Phương Sơn, Lan Mẫu phát triển khá mạnh.

Vụ chiêm năm 1945, phát xít Nhật thúc ép dân nộp “thóc tạ” và đóng thuế. Các tổ chức Việt Minh đã vận động nhân dân không nộp thuế, không bán thóc cho Nhật. Tháng 6-1945, bọn kỳ hào làng Đọ mang bài ra đình bổ thuế. Đội vũ trang tuyên truyền cách mạng do đồng chí Hồ Công Lạng chỉ huy vào đình thuyết phục bọn kỳ hào không được bổ thuế. Bọn kỳ hào trong làng sợ hãi không dám chống cự, ta thu lại bài bổ. Do vậy, trong vụ chiêm năm 1945, nông dân Cương Sơn không nộp thuế cho Nhật. Sau đó đội vũ trang tuyên truyền này còn đi nhiều nơi vận động nhân dân không nộp thuế, không bán thóc.

Trước phong trào Việt Minh lên cao, bộ máy chính quyền tay sai của phát xít Nhật từ phủ đến tổng, xã rệu rã, nhiều nơi chính quyền địch không còn hiệu lực. Mặt trận Việt Minh đứng ra giải quyết các công việc ở làng xã. Tổ Việt Minh làng Đọ đã cử đồng chí Đỗ Văn Dưỡng làm lý trưởng thay lý trưởng cũ do tri phủ dựng lên.

Phong trào Việt Minh ngày càng phát triển mạnh mẽ và có ảnh hưởng sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân làm cho phát xít Nhật lo sợ. Chúng mở nhiều cuộc tấn công vào các cơ sở của ta, nhưng đến đâu cũng bị lực lượng tự vệ chiến đấu chặn đánh, gây cho chúng những tổn thất nặng nề. Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 6 đến đầu tháng 7-1945, lực lượng tự vệ đã chặn đánh quân Nhật hàng chục trận, điển hình là các trận Cầu Lồ, Cầu Sen, Cầu Sàn, Đại Giáp, Miếu Thị Trinh... gây cho địch nhiều khó khăn, tổn thất. Điển hình là trận đánh ở ngã ba Miếu Thị Trinh của tự vệ hai tổng Sơn Đình, Lan Mẫu phối hợp với một đơn vị Cứu quốc quân chặn đánh một đoàn ô tô quân sự của Nhật trên đường từ Khu quân sự Cầu Lồ về Phủ Lạng Thương, phá hủy một xe ô tô, một khẩu pháo, diệt 6 lính Nhật trên xe. Trận tấn công vào Khu quân sự Cầu Lồ của tự vệ tổng Lan Mẫu phối hợp với lực lượng tự vệ các làng xung quanh đã bức rút một đại đội lính Nhật, chiếm căn cứ Cầu Lồ.

Đầu năm 1945, một tên lính Nhật từ đồn Đầm về làng Gàng thúc ép dân phá lúa trồng đay. Đến trưa, tên lính Nhật ghé vào nhà đồng chí Lê Bá Hội nghỉ tạm. Ba em thiếu nhi làng Gàng đã lập mưu giết tên lính Nhật, đoạt một súng trường nộp cho đội tự vệ.

Một khó khăn lớn đối với sự phát triển của phong trào cách mạng trên địa bàn lúc này là hoạt động của các toán thổ phỉ và các nhóm đảng phái phản động. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, lợi dụng lúc chính quyền tay sai Nhật còn lúng túng, cơ cở Việt Minh còn chưa nhiều, lực lượng tự vệ còn nhỏ, bọn thổ phỉ, đặc vụ Tưởng Giới Thạch và các nhóm đảng phái phản động nổi lên, mỗi nhóm chiếm cứ một vùng. Voòng Tài Trấn chiếm giữ miền núi Bảo Đài, Lý Chắc Sần được Nhật phong Quận trưởng bảo an, trong tay có hàng trăm lính, trấn giữ khu vực phố Lục Nam; nhóm Quốc dân đảng phản động của Vũ Hồng Khanh, Nguyên Tường Tam tập hợp lực lượng chiếm cứ làng Triệu, làng Húi (xã Đan Hội) làm sào huyệt; bọn chánh Nha, chánh Nhuận chiếm cứ vùng Mai Sưu, Đối Sơn trong tay có hàng trăm thủ hạ. Các nhóm phe phái tranh giành, mâu thuẫn nhau, gây ra nhiều vụ xô xát, chém giết lẫn nhau.

Sáng 2-7-1945, từ làng Gàng, đồng chí Lê Bá Hội cùng 7 đồng chí tự vệ đi đón 9 cán bộ từ Đệ tứ chiến khu Đông Triều (Chiến khu Trần Hưng Đạo) lên. Do kế hoạch bị lộ, bọn thổ phỉ ở Ao Vè (Vô Tranh) đã tổ chức phục sẵn tại Đồng Quần, Vô Tranh. Khoảng 12 giờ, chúng bắt đoàn cán bộ của Đệ tứ chiến khu và 6 tự vệ làng Gàng, đến chiều, bắn chết 11 đồng chí, cả 9 đồng chí ở Đông Triều và 2 tự vệ Gàng là Đặng Bá Mạo và Nguyễn Đình Tư.

Nhận được tin này, các chiến sỹ tự vệ làng Gàng vô cùng căm phẫn, đề nghị cho đánh bọn phỉ Ao Vè để trả thù cho các đồng chí đã bị chúng giết hại. Nhưng các đồng chí phụ trách ở đây không đồng ý. Tối hôm đó, tự vệ và nhân dân làng Gàng tổ chức lễ truy điệu các đồng chí cán bộ và du kích đã hy sinh.

Ở nhiều địa phương, bọn địa chủ, cường hào cũng tập hợp lực lượng, lập vây cánh, chiếm cứ một vùng vừa để tự vệ, vừa tổ chức đi cướp bóc nhân dân. Tình hình trở nên phức tạp, gây nhiều đau khổ cho nhân dân và phong trào cách mạng ở địa phương.

Trước tình hình diễn biến mau lẹ, thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền đến gần, Ban Cán sự Đảng tỉnh Bắc Giang chủ trương:

1- Tiếp tục mở rộng cơ sở cách mạng, vừa để nâng cao uy thế của Việt Minh, vừa để thu hẹp dần phạm vi hoành hành của các toán phỉ và các nhóm phe phái phản động.

2- Xây dựng lực tương tự vệ mạnh để áp đảo bọn chúng.

3- Lôi kéo, thuyết phục nhằm chặn bàn tay tàn sát, cướp phá của chúng. Trừng trị những tên ngoan cố. Tranh thủ giác ngộ quần chúng lao động trong hàng ngũ địch trở về với cách mạng.

Thực hiện nhiệm vụ trên, nhiều cán bộ Việt Minh đã không sợ vất vả hiểm nguy, vào tận sào huyệt của bọn phỉ để thuyết phục, phân hóa chúng. Đây là nhiệm vụ phức tạp và nguy hiểm, nhiều cán bộ Việt Minh trực tiếp gặp gỡ để tuyên truyền, thuyết phục. Trước các hành động đe dọa, các đồng chí vẫn bình lĩnh, tỏ thái độ kiên quyết, yêu cầu chúng phải đình chỉ các hành động cướp phá, khi di chuyển phải báo trước cho ta. Các đồng chí cán bộ Việt Minh vừa dùng lời lẽ thuyết phục những tên cầm đầu các toán phỉ, vừa khuếch trương thanh thế, áp đảo tinh thần để chúng không đi cướp phá.

Là địa phương có đông Hoa kiều sinh sống, nhưng đến đầu năm 1944 vẫn chưa xây dựng được cơ sở cách mạng trong vùng người Hoa. Thực hiện chủ trương của Ban Cán sự Đảng tỉnh Bắc Giang về xây dựng cơ  sở cách mạng trong cộng đồng người Hoa, tập hợp người Hoa vào tổ chức cách mạng, cùng người Việt chống Nhật - Pháp và bảo vệ quyền lợi của người Hoa, các cán bộ Việt Minh đã tiến hành nhiều biện pháp tích cực, đạt hiệu quả.

Sau khi liên lạc được với Lầm Chúng (một người Hoa từ Trung Quốc sang dạy học ở Chũ), qua đó tuyên truyền, vận động người Hoa. Đông đảo người Hoa đã dần ngả theo cách mạng, thành lập đội “Chí nguyện Hoa kiều", cùng tham gia đánh Nhật, trấn áp thổ phỉ. Tổ chức tuyên truyền, rải truyền đơn kêu gọi bà con người Hoa cùng hợp sức đánh Nhật - Pháp. Truyền đơn được dịch ra chữ Hán rồi phân phát cho quần chúng ở các trại của Hoa kiều.

Cán bộ Việt Minh cùng Lầm Chúng đi vào các trại Hoa kiều tuyên truyền, giải thích cho quần chúng hiểu rõ mục tiêu chống đế quốc phát xít, giành độc lập dân tộc của cách mạng dưới sự lãnh đạo của Việt Minh, đập tan âm mưu của đế quốc và thổ phỉ hòng chia rẽ khối đoàn kết dân tộc .

Đối với bọn cầm đầu thổ phỉ là người Hoa, ta lấy danh nghĩa “chí nguyện Hoa kiều” tiêu diệt thẳng tay những tên ra mặt chống đối.

Đối với Lý Chắc Sần, Quận trưởng bảo an, tên này một mặt chống lại Nhật - Pháp, nhưng lại âm mưu đón quân đội Tưởng Giới Thạch, chờ thời cơ lật Việt Minh, lập chính quyền thân Tưởng. Ta chủ trương nhanh chóng phát triển lực lượng vũ trang và lực lượng quần chúng để gây áp lực, đồng thời với dùng lý lẽ thuyết phục.

Đối với những toán phỉ từ Trung Quốc tràn vào dưới danh nghĩa Hoa quân nhập Việt, dùng Lý Chắc Sần thuyết phục và cấp cho chúng một phần lương thực, thực phẩm để chúng không đi cướp phá của dân, hạn chế sự lộn xộn mà chúng gây ra.

Trong khi lực lượng cách mạng chưa đủ sức mạnh để ngăn chặn các hành động chống phá của các toán phỉ, phe phái phản động thì việc thực hiện sách lược phân hóa các phe nhóm đã làm hạn chế các hoạt động chống phá của chúng, hạn chế một phần những khó khăn, phức tạp mà chúng gây ra đối với phong trào cách mạng ở địa phương.

Qua các hoạt động sôi động, mạnh mẽ, Việt Mình thu phục được lòng dân. Đồng bào các dân tộc đã hướng về Mặt trận Việt Minh. Cơ sở Việt Minh được mở rộng, phong trào sắm sửa vũ khí, thành lập đội tự vệ vũ trang, luyện tập quân sự để bảo vệ xóm làng, chuẩn bị giành chính quyền khi thời cơ đến đã phát triển rộng khắp.

Giữa tháng 6-1945, Cứu quốc quân cử một đơn vị từ Bắc Sơn tiến xuống Bắc Giang, đồng chí Hoàng Hà Châu vào rừng Bảo Đài đón đơn vị Cứu quốc quân do đồng chí Lương Công (tức Hà Châm) chỉ huy. Khi về đến dốc Là Phú (xã Tam Dị) thì bị quân Nhật phục bắt. Chúng giải đồng chí Hoàng Hà Châu về Khu quân sự Cầu Lồ, sau đó giải xuống giam ở nhà lao Phủ Lạng Thương. Để kịp thời lãnh đạo phong trào, Ban Cán sự Đảng tỉnh Bắc Giang đã cử đồng chí Nguyễn Thanh Bình về phụ trách phong trào cách mạng ở địa bàn Lục Ngạn.

Về đến địa phương, đồng chí Nguyễn Thanh Bình đi kiểm tra, nắm bắt tình hình và liên lạc với các cơ sở ở Sàn, Đại Từ, Thanh Giã, Đọ, phố Lục Nam, Quỷnh, Gàng.

Tại làng Thanh Giã, đồng chí Nguyễn Thanh Bình đã thuyết phục Linh mục Tự ngả theo cách mạng, từ đó đã lôi cuốn nhiều giáo dân đi theo cách mạng, trở thành cơ sở tin cậy của ta.

Đầu tháng 7-1945, ta tổ chức mít tinh tại sân Nhà thờ Thanh Giã, có hàng trăm người tham dự. Linh mục Tự đứng ra giới thiệu Chương trình của Mặt trận Việt Minh. Đồng chí Vũ Bằng thông báo tình hình cách mạng trong nước, kêu gọi đồng bào theo đạo Thiên chúa cùng đồng bào theo đạo Phật và các tính ngưỡng khác, đều là con Lạc cháu Hồng, hãy đoàn kết lại đánh đuổi phát xít Nhật, giành độc lập của Tổ quốc.

Phong trào cách mạng lúc này phát triển mạnh mẽ, sâu rộng. Hầu hết các xã đều có các đoàn thể cứu quốc, nhiều nơi đã thành lập Mặt trận Việt Minh xã, tổng. Chính quyền địch chỉ tồn tại trên hình thức. Ngay khi về tới Lục Ngạn, đồng chí Nguyễn Thanh Bình nhận thấy tình thế cách mạng trực tiếp đã xuất hiện, liền đôn đốc gấp rút hoàn thành những công việc chuẩn bị để đón thời cơ, vùng dậy khởi nghĩa giành chính quyền.

Trước tình hình cấp bách, đồng chí Hoàng Hà Châu đã được lực lượng tự vệ ở Dĩnh Kế tổ chức giải thoát kịp về Lục Ngạn cùng các đồng chí khác lãnh đạo khởi nghĩa. Để đảm bảo thắng lợi, các đồng chí đã nhân danh Việt Minh, viết thư bí mật bỏ vào ngăn bàn làm việc Tri phủ Vũ Phạm Phổ để thăm dò thái độ. Biết Tri phủ đã dao động, ít ngày sau ta lại viết thư thuyết phục. Nhận được thư, Tri phủ Vũ Phạm Phổ trả lời sẵn sàng tuân theo các điều kiện của Việt Minh đưa ra.

Thời cơ khởi nghĩa đến gần, chủ trương khởi nghĩa được quán triệt trong lực lượng tự vệ.

 Đêm 17-7-1945, đồng chí Nguyễn Thanh Bình triệu tập một cuộc họp ở làng Đọ gồm các đồng chí đảng viên và quần chúng cốt cán của phong trào: Hồ Công Lạng, Lê Bá Ước (Lư Giang), Mạnh Hùng (Lê Ơn), Lê Bá Hội, Phương Minh Nam, Nguyễn Văn Biên,... bàn kế hoạch khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị quyết định:

1- Khởi nghĩa giành chính quyền phủ vào sáng 18-7-1945

2- Lực lượng tham gia khởi nghĩa là tự vệ các xã và quần chúng nhân dân.

3- Ngăn chặn quân Nhật ở Cầu Lồ, không cho chúng tiếp viện, cô lập lực lượng Lý Chắc Sần.

4- Sau khi khởi nghĩa thắng lợi, nhanh chóng thành lập chính quyền cách mạng để bảo vệ an ninh, trấn áp bọn phản cách mạng, giúp các làng, xã  khởi nghĩa giành chính quyền.

Việt Minh bắt liên lạc với ông Phạm Văn Ân (cai Ân), người làng Quỷnh. Ông Ân là cơ sở quần chúng của ta, đã từng chuyển cho lực lượng cách mạng một khẩu súng. Mặt khác, dùng kế “điệu hổ ly sơn” đối với Lý Chắc Sần để giữ chân, không cho ngăn cản cuộc khởi nghĩa. Trước khi thực hiện kế hoạch bao vây, tiến công vào phủ đường, ta đề nghị một người có thế lực trong vùng mời Lý Chắc Sần đến nhà rồi thông báo cho hắn biết Việt Minh sẽ tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Ở vào thế bị động, Lý Chắc Sần buộc phải thực hiện yêu cầu của Việt Minh.

Thực hiện kế hoạch khởi nghĩa, một lực lượng lớn tự vệ làm nhiệm vụ ngăn chặn các ngả đường, không cho địch tiếp ứng, bảo vệ phủ. Đêm 17-7-1945, đồng chí Nguyễn Văn Lục chỉ huy trên một trăm tự vệ mai phục từ ngã tư Gai đến Hà Tú (xã Chu Diện). Lực lượng tự vệ do đồng chí Lư Giang chỉ huy mai phục từ Mẫu Sơn đến Dốc Sàn. Đồng chí Lư Giang đích thân dẫn một tiểu đội tự vệ với hai quả mìn đến phá cầu Mẫu Sơn để ngăn quân Nhật từ Cầu Lồ lên tiếp viện. Do không có kỹ thuật sử dụng mìn nên hai quả mìn chỉ làm bục hai hố nhỏ trên mặt cầu, ta huy động nhân dân làng Mẫu Sơn ra cuốc hai đầu cầu.

Lực lượng tham gia vây phủ là gần hai trăm tự vệ, bao gồm các đội tự vệ khu Gàng, Sơn Đình, Tam Dị, Chu Điện, Đọ và phố Lục Nam.

Mờ sáng 18-7-1945, một bộ phận tự vệ vũ trang tiến vào phủ, lính gác thấy lực lượng ta đông, bỏ chạy vào lô cốt. Cai Ân ra lệnh cho binh lính trong phủ không được chống cự và tập trung súng lên gác hai.

Khi tiến vào phủ, có 3 tiếng súng nổ làm bị thương nhẹ một lính cơ. Tri phủ Vũ Phạm Phổ mặc áo dài trắng cùng gia đình ra hàng, xin nộp bằng triện, sổ sách và cung đường cho Việt Minh. Ta thu 41 khẩu súng, cho binh lính về quê và đưa tri phủ cùng gia đình vào tạm trú tại làng Quỷnh.

Ngày 20-7-1945, Việt Minh tổ chức mít tinh có hàng ngàn người dự. Tại cuộc mít tinh, Ủy ban dân tộc giải phóng phủ do đồng chí Lê Bá Hợi làm Chủ tịch đã ra mắt nhân dân. Sau khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Giành chính quyền cách mạng ở Lục Ngạn thành công có ý nghĩa lớn đối với tiến trình Cách mạng tháng Tám ở Bắc Giang, góp phần đưa cao trào chống Nhật cứu nư­ớc phát triển mạnh mẽ khắp toàn tỉnh.

Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (từ 13 đến 15-8-1945) và Quốc dân Đại hội (16, 17-8-1945). Khí thế cách mạng càng thêm sôi sục. Chính quyền bù nhìn ở tỉnh tan rã.

Sau khởi nghĩa giành chính quyền ở phủ thắng lợi, tại hầu hết các làng xã, dưới sự lãnh đạo của cán bộ Việt Minh, các đoàn thể cứu quốc, quần chúng nhân dân đã đứng lên thủ tiêu chính quyền cũ, thành lập chính quyền cách mạng.

Dưới sự lãnh đạo của 7 đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương, Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc đã tổ chức vận động toàn dân đoàn kết một lòng, vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi nhanh gọn, không đổ máu. Đó là kết quả của cả một quá trình chuẩn bị lâu dài, chu đáo và sự nhạy bén của các đồng chí đảng viên, cán bộ Việt Minh, nắm bắt đúng thời cơ; kịp thời chớp thời cơ, phát động quần chúng vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

Ngày 20-7-1945, tại Rừng Vườn, xã Cương Sơn, đơn vị vũ trang tuyên truyền đầu tiên của phủ Lục Ngạn thành lập, gồm 18 đội viên, do đồng chí Mạnh Hùng (Lê Ơn) làm Đội trưởng, đồng chí Lê Bá Ước (Lư Giang) làm Chính trị viên. Đội vũ trang tuyên truyền có nhiệm vụ đi sâu vào vùng rừng núi tuyên truyền đường lối, chính sách của Việt Minh, kêu gọi nhân dân các dân tộc đoàn kết chống Nhật, giúp các xã phát triển lực lượng vũ trang, thành lập Ủy ban dân tộc giải phỏng các xã bảo vệ nhân dân, diệt phỉ và liên lạc với Đệ tứ chiến khu Đông Triều.

Sau một thời gian luyện lập quân sự, Đội vũ trang tuyên truyền bắt đầu cuộc “trường chinh” qua Đối Sơn, Mai Sưu, Đầm Trì, vượt núi lên Yên Tử, sang Đồng Châu, Hồ Sếu rồi đến Đệ tứ chiến khu Đông Triều.

Sau khi nghe báo cáo tình hình, các đồng chí lãnh đạo Đệ tứ chiến khu Đông Triều nắm được tình hình, biết rõ sự hy sinh của đồng chí Trương Công Cẩn và 8 chiến sỹ cùng đi. Ban lãnh đạo Chiến khu Đông Triều tổ chức lễ truy điệu 9 chiến sĩ đã hy sinh vì nhiệm vụ cách mạng.

Đi tới đâu, Đội cũng tổ chức tuyên truyền, và được đồng bào các dân tộc hết lòng giúp đỡ. Khi trở về Đội vũ trang tuyên truyền đã bổ sung quân số, từ 18 đội viên lúc lên đường, lúc trở về đã tăng lên 80 người. Đơn vị được trang bị bổ sung vũ khí, gồm nhiều loại súng, từ khai hậu tự chế, súng thu được của quân Nhật, của quân Pháp,... Trên đường hành quân trở về, Đội giúp nhân dân các xã đánh đổ chính quyền tay sai, lập Ủy ban dân tộc giải phóng các làng xã, xây dựng đội tự vệ, trừng trị Việt gian, thổ phỉ, góp phần bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. 

Sau gần một tháng hành quân làm công tác vũ trang tuyên truyền, xây dựng cơ sở trên địa bàn Lục Ngạn và Đông Triều, đơn vị đã hoàn thành nhiệm vụ được giao, trở về thực hiện nhiệm vụ mới. Đơn vị được chia thành hai bộ phận: Một bộ phận do đồng chí Mạnh Hùng làm Đội trưởng, đồng chí Phương Minh Nam làm Chính trị chỉ đạo viên, đến Đan Hội giải quyết nhóm Quốc dân Đảng phản động, sau đó về giúp Hải Dương giải phóng Tỉnh lỵ. Một bộ phận do đồng chí Lư Giang chỉ huy, tiến về thị xã Phủ Lạng Thường tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh.

Sáng sớm 21-8-1945, lực lượng vũ trang của ta gần một trăm chiến sĩ hành quân trên một chiếc canô, xuất phát lừ làng Già Khê (Tiên Hưng) theo sông Lục Nam đến làng Chiều (xã Đan Hội). Nhóm Quốc dân Đảng tại Đan Hội, có một nhóm Quốc dân Đảng phản động (của Vũ Hồng Khanh) do ba tên: Giang, Thành và Hồng cầm đầu, tại các làng Triệu, Bưởi, Húi (xã Đan Hội), câu kết với bọn hào lý để hoạt động. Từ đầu năm 1945, khi phong trào Việt Minh chưa lan tới khu vực Đan Hội, chúng cũng nêu khẩu hiệu đánh Pháp, đuổi Nhật để tập hợp quần chúng. Bọn này đã lợi dụng lòng căm thù Nhật-Pháp của những người nông dân ở đây nên đã lừa bịp được một số quần chúng đi theo. Chúng chọn làng Húi, có địa hình thuận lợi làm sào huyệt, lực lượng lúc đông có tới hàng trăm tên, hàng ngày tập luyện, hành quân từ làng nọ qua làng kia để khuếnh trương thanh thế.

Tối 21-8, ta nhanh chóng dàn quân chiếm lĩnh trận địa. Lực lượng của ta chia làm hai cánh. Cánh thứ nhất (mũi tấn công chủ yếu) đi bộ theo dãy núi Chợ Sa tiến vào bao vây trước làng Húi nhằm chặn đường tháo lui của chúng.

Đêm 21-8-1945, mở đầu trận đánh, ta dùng loa kêu gọi bọn chúng hạ vũ khí đầu hàng, trở về với nhân dân. Chúng ngoan cố chống cự. Từ nhiều hướng, ta nổ súng tấn công, vừa đánh vừa reo hò, vừa phát loa gọi hàng. Bị lực lượng cách mạng áp đảo, các phần tử Việt Nam Quốc dân Đảng đề nghị ta ngừng bắn và xin gặp để điều đình. Đồng chí Phương Minh Nam được cử vào gặp những kẻ cầm đầu Quốc dân đảng tại nhà Lý Kháng. Bọn chúng tìm đủ mọi cách để dọa nạt, lung lạc tinh thần, nhưng đồng chí Phương Minh Nam vẫn bình tĩnh, hiên ngang giữa hang ổ kẻ thù. Đồng chí phân tích tình hình thời cuộc và cho chúng biết lực lượng Việt Minh lớn mạnh. Đồng thời cũng giải thích cho chúng rõ tôn chỉ, mục đích của Mặt trận Việt Minh, chính sách khoan hồng của cách mạng đối với những người lầm đường, lạc lối, tự nguyện trở về với nhân dân. Sau khi nghe đồng chí Nam giải thích, nhóm Việt Nam Quốc dân Đảng đã có sự phân hóa. Tên Thành đồng ý theo đồng chí Phương Minh Nam ra gặp đồng chí Mạnh Hùng ở Làng Chiền. Thành nhanh chóng tuân theo những yêu cầu của cách mạng. Ngay sau đó, Thành dẫn một toán quân (20 tên) cầm cờ trắng ra hàng. Số quân còn lại Giang, Hồng cầm đầu vẫn ngoan cố chống lại lực lượng cách mạng. Trưa l2-8-1945, thủ thời cơ địch hoang mang, quân tấn công vào làng Húi và làng Triệu. Thấy lực lượng cách mạng đến, nhóm Việt Nam Quốc dân Đảng hoảng sợ, không dám chống lại, tìm cách giấu vũ khí để chạy trốn. Được nhân dân chỉ dẫn, hầu hết những tên đầu sỏ ngoan cố bi bắt và thu toàn bộ súng đạn.

Nhiệm vụ cấp bách trên giao cho đơn vị đã hoàn thành. Đội quân của Mạnh Hùng và Phương Minh Nam xuôi về thị xã Hải Dương.

Việc đánh tan nhóm Quốc dân Đảng phản động ở Đan Hội đã góp phần củng cố chính quyền cách mạng non trẻ, tiếp lục đưa phong trào cách mạng tiến sang một giai đoạn mới.

Cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân phủ Lục Ngạn cùng nhân dân cả nước được bước sang một trang sử mới, từ thân phậm nô lệ bần cùng trở thành chủ nhân một nước tự do, độc lập. Kế tục truyền thống quật cường, bất khuất trong cuộc đấu tranh giành chính quyền cách amngj, nhân dân Lục Nam nguyện đem hết tinh thần, nghị lực, trí tuệ, tài năng để xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước.

                                                                         

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương III

CỦNG CỐ VÀ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG,

TIẾN HÀNH  KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP

(1945-1954)

 

1. Xây dựng lực lượng và bảo vệ chính quyền cách mạng (1945-1947)

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thắng lợi, đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Sau Cách mạng tháng Tám, khắp nơi từ thành thị đến nông thôn đều sôi nổi khí thế cách mạng, nhân dân vô cùng phấn khởi bắt tay xây dựng chế độ mới.

Nhà nước non trẻ vừa mới ra đời đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn trở ngại. Chế độ thực dân phong kiến để lại nhiều hậu quả nặng nề. Nền tài chính kiệt quệ, kho bạc trống rỗng. Nạn đói khủng khiếp kéo dài từ đầu năm 1945 và dịch bệnh hoành hành ở nhiều nơi. Nhiều tỉnh đồng bằng bị nạn lụt gây ra những thiệt hại lớn, trên 90 % dân số mù chữ. Giữa lúc đó, các thế lực phản động bên ngoài và trong nước cấu kết với nhau thực hiện mưu đồ tiêu diệt Đảng, bóp chết chính quyền dân chủ nhân dân non trẻ, hòng xóa bỏ thành quả cách mạng do nhân dân ta vừa giành được, khôi phục lại chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và Đông Dương.

Ngày 10-9-1945, với danh nghĩa quân Đồng minh vào tước vũ khí quân đội Nhật, hơn 2.000 quân Tưởng Giới Thạch kéo vào Bắc Giang và đóng ở nhiều nơi trên đất Lục Ngạn. Núp sau quân đội Tưởng là bọn Việt Nam Quốc dân đảng phản động, Việt Nam cách mạng đồng minh, bọn phản động và thổ phỉ gặp thời cơ nổi dậy chống phá khắp nơi. Chính quyền nhân dân vừa mới thành lập đã gặp phải những khó khăn nghiêm trọng. Nạn đói cùng với lũ lụt gây mất mùa màng nặng nề năm 1945, đẩy nền kinh tế đến chỗ kiệt quệ, tiêu điều. Nông dân nhiều xã ở địa phương bị bọn thổ phỉ cướp phá nhà cửa, của cải, trâu bò và phương tiện canh tác nên càng cực khổ hơn. Tại các phủ, châu miền núi, bọn thổ phỉ lợi dụng sự che chở của quân Tưởng, liên tiếp gây ra nhiều vụ đánh người, cướp bóc của cải. Bọn Việt Nam Quốc dân Đảng phản động công khai lập trụ sở ở Phủ Lạng Thương, bàn mưu tính kế, thực hiện những hành động chống lại chính quyền cách mạng.

Trước tình hình đó, để đẩy lùi khó khăn, đưa con thuyền cách mạng đến thắng lợi, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối sáng suốt vừa mềm dẻo về sách lược nhưng rất cứng rắn về nguyên tắc để giữ vững độc lập. Sách lược của Đảng hết sức mềm dẻo, kiên nhẫn, tránh mọi xung đột với quân Tưởng, nhưng cũng kiên quyết chống lại những hành động vi phạm chủ quyền quốc gia. Ta vừa phải lo nơi ăn, chỗ ở, tiếp tế lương thực cho quân Tưởng, vừa phải giải quyết những rắc rối hàng ngày như việc chúng tung đồng quan kim  mất giá làm hỗn loạn thị trường. Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nhiều nơi thổ phỉ còn ẩn náu hoạt động. Hoàng Nhật Phu, Lương Tam, Cố Giang lấy danh nghĩa “Hoa quân nhập Việt” chống lại chính quyền. Tay chân của Bế Xuân Vi, Voòng Tài, Voòng Nhì cũng lợi dụng cướp phá nhiều nơi. Một số đồng bào dân tộc ngộ nhận là Hoa Kiều, bị lợi dụng, lôi kéo cũng dựa vào thế quân Tưởng nhũng nhiễu. Để phân hoá lực lượng kẻ địch, tránh sự lợi dụng, lôi kéo của chúng đối với Hoa kiều ta thành lập hội “Hoa – Việt thân hữu”. Hội thu hút được nhiều Hoa Kiều ở địa phương tham gia, góp phần cải thiện mối quan hệ tình cảm với sự hiểu biết lẫn nhau giữa Hoa Kiều và người Việt. Chính sách lôi kéo thu phục Mai Triều Nam, đề nghị cấp trên cho lập bộ tham mưu chung với Hoa Kiều gồm Lại Chắc Sầu, Trần Vay Thình, Hứa Tích Chương đã kiềm chế, kiểm soát sự hoạt động của chúng. Những thổ phỉ ngoan cố chống lại cách mạng, gây nhiều nợ máu với nhân dân như Voòng Tài, Voòng Khì, Voòng Nhì thì kiên quyết trấn áp, tiêu diệt. Tháng 11-1945, vệ quốc quân và du kích các xã liên tiếp tấn công Voòng Tài dồn bọn chúng vào Hố Nác, Đồng Xung (Đông Hưng). Từ ngày 22 đến 27-11-1945, 3 trung đội vệ quốc quân cùng với du kích Đông Hưng chiến đấu 5 ngày liền, tiêu diệt Voòng Tài, Voòng Nhì và 12 tên khác.

Cùng với việc chống đỡ các lực lượng thù địch để bảo vệ chính quyền cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, các huyện ủy, chính quyền nhân dân các xã phát động mọi tầng lớp nhân dân thực hiện những nhiệm vụ cấp bách để tăng gia sản xuất chống nạn đói, lạc quyên tiền gạo để giúp đỡ dân nghèo, mở chiến dịch chống nạn mù chữ v.v… Chính quyền kêu gọi nhân dân nhường cơm xẻ áo, quyên góp lương thực; lập một trại tăng gia ở Cầu Lồ để đưa đồng bào ở các tỉnh miền xuôi đến tăng gia sản xuất. Một số địa chủ ở các xã Cương Sơn, thị trấn Lục Nam, Đông Hưng… đã hiến ruộng cho cách mạng để chia cho nông dân. Hầu hết các xã đều có phong trào “cho mượn ruộng”, để kịp thời tăng gia sản xuất ngay vụ đông xuân 1945-1946. Nhiều đất hoang hoá, ruộng vô chủ cũng được chính quyền cấp cho những người chưa có ruộng hoặc ít ruộng  khai thác trồng lúa và rau màu ngắn ngày kịp thời cứu đói.

 Mặc dù đời sống còn gặp nhiều khó khăn, đồng bào các dân tộc ở địa phương đã hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện Tuần lễ vàng, Quỹ độc lập tổ chức từ ngày 17 đến 24-9-1945. Tuần lễ vàng được tổ chức tại thôn Dùm (Nghĩa Phương) thu hút được đông đảo nhân dân tham gia, nhiều nhà giàu cũng ủng hộ cả xuyến vàng, dây chuyền, hoa tai, nhẫn vàng và nhiều đồ gia bảo quý giá khác.

Một trong sáu nhiệm vụ cấp bách mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu trong phiên họp Chính phủ đầu tiên (3-9-1945) là “mở chiến dịch chống nạn mù chữ”, diệt giặc dốt. Thực hiện lời kêu gọi của Người, phong trào “bình dân học vụ” ở địa phương đã phát triển, các làng xóm đều mở lớp bình dân học vụ. Ban bình dân học vụ tỉnh Bắc Giang đã mở 18 lớp huấn luyện đào tạo giáo viên cho các xã. Đã có gần 30 cán bộ bình dân học vụ tham gia các lớp học này. Ở các xã Bắc Lũng, Yên Sơn… nhân dân tổ chức kiếm củi, gánh đá  lấy tiền gây quỹ bình dân học vụ. Chi bộ, chính quyền ở Bảo Sơn và một số xã đã có giải thưởng bằng hiện vật cho các giáo viên đạt thành tích thanh toán sớm nạn mù chữ cho thôn, xóm mình. Các lớp học tại nhà, lớp học tập trung buổi trưa, buổi tối đặt tại đình làng, điếm canh, gốc đa, quán chợ… đã tạo nên không khí “diệt giặc dốt” sôi nổi. Nhiều giáo viên, học sinh phổ thông, nhân sĩ, trí thức, công chức… đã tự nguyện làm giáo viên, cho mượn nhà làm nơi học hoặc ủng hộ các học viên nghèo giấy vở, bút mực, đèn dầu. Cùng với phong trào bình dân học vụ, các lớp tiểu học được mở trở lại ngay từ năm học 1945-1946 để đón học sinh đến trường. Nhằm tạo điều kiện cho giáo viên các trường làng, xã yên tâm công tác, Uỷ ban hành chính tỉnh Bắc Giang đã ra quyết định trợ cấp cho mỗi giáo viên 25 kg gạo một tháng, do các uỷ ban liên xã trực tiếp cung cấp. Nhân dân các xã đã góp công sức, nguyên vật liệu sửa sang trường lớp, bàn ghế.

Phong trào thực hiện nếp sống mới do huyện phát động được nhân dân hăng hái tham gia. Mặt trận Việt Minh phối hợp với các đoàn thể cứu quốc tổ chức tuyên truyền, vận động trong nhân dân bài trừ các hủ tục lạc hậu do chế độ cũ để lại. Nhờ vậy, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, mê tín dị đoan, các hủ tục lạc hậu trong ma chay, cưới xin.. dần bị bãi bỏ.

Phong trào vệ sinh, phòng trừ dịch bệnh cũng được chính quyền các cấp quan tâm triển khai thực hiện đến từng thôn xóm, bản làng xa xôi hẻo lánh. Đầu năm 1946, huyện đã mở một phòng cấp phát thuốc đặt tại phố Lục Nam giúp nhân dân phòng và chữa một số bệnh thông thường. Sức khỏe được đảm bảo, nhân dân càng hăng hái lao động sản xuất, đóng góp sức người, sức của cho công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước. Phong trào văn hóa, văn nghệ được chính quyền quan tâm, nhằm phục vụ nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc. Đình làng, công quán, điếm canh trở thành nơi hội họp, hoạt động văn hoá văn nghệ, các cuộc cổ động tuyên truyền cho “tuần lễ vàng” bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân, ủng hộ “Nam Bộ kháng chiến”.

Trong phong trào ủng hộ đồng bào Nam Bộ kháng chiến, hàng trăm thanh niên trong huyện đã hăng hái ghi tên tình nguyện vào Nam chiến đấu. Tại thị trấn Lục Nam, vào trung tuần tháng 1- 1946, nhân dân đã tổ chức  mít tinh trọng thể, tiễn đưa chi đội “Nam tiến” lên đường đánh giặc cứu nước.

Các thứ thuế bất hợp lý do chế độ cũ để lại được bãi bỏ, thực hiện giảm tô, xoá nợ, chia lại công điền, tịch thu ruộng đất của Pháp và địa chủ phản động, tạm cấp cho nông dân.

Một trong những nhiệm vụ cấp bách được Huyện ủy hết sức quan tâm lãnh đạo tổ chức thực hiện là việc xây dựng và bảo vệ chính quyền vững mạnh từ huyện xuống đến các xã. Thực hiện Sắc lệnh 63 (21-11-1945) về việc tổ chức uỷ ban hành chính các cấp, đầu năm 1946 ở địa phương, Uỷ ban hành chính phủ Lục Ngạn, uỷ ban hành chính các xã đã được thành lập thay thế các uỷ ban nhân dân cách mạng. Chấp hành chủ trương của Trung ương, Tỉnh ủy và các Huyện ủy tổ chức Đảng, chính quyền các xã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chuẩn bị bầu cử. Các đồng chí đảng viên, hội viên trong Mặt trận Việt minh và các đoàn thể cứu quốc đều tích cực tham gia học tập quán triệt sâu sắc mục đích, ý nghĩa của cuộc bầu cử.

Trước ngày bầu cử Quốc hội, công tác tuyên truyền, giải thích được triển khai để nhân dân hiểu rõ về nghĩa vụ và quyền lợi công dân, về trách nhiệm xây dựng, củng cố chính quyền. Ngày 6-1-1946, trên 90% cử tri ở các xã đã nô nức đi bầu cử Quốc hội. Giữa năm 1946 việc sáp nhập các xã thành liên xã cũng căn bản hoàn thành. Ngày 5-7-1946, nhân dân các xã lại phấn khởi đi bầu cử Hội đồng nhân dân liên xã để cử ra Ủy ban hành chính nhằm duy trì và điều hành mọi công việc chính quyền, với tinh thần phải đưa người đã ở trong Uỷ ban nhân dân có năng lực về quản lý hành chính ra ứng cử còn những người thiếu lực và  tư cách thì để làm việc khác… Cần giới thiệu những thân hào có tài đưa ra ứng cử với những người ứng cử của Việt Minh”.

Do các chi bộ làm tốt công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức trách nhiệm công dân nên cuộc bầu cử thành công tốt đẹp, nhân dân đã bầu ra những đại biểu của mình đứng ra tổ chức, quản lý công việc, loại bỏ những phần tử phản động, dựa thế quân Tưởng để chống phá cách mạng ra khỏi bộ máy chính quyền..

Qua cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân, các tổ chức Đảng và nhân dân các xã đã thể hiện sự đoàn kết nhất trí, kiên quyết chống giặc ngoại xâm, kiên quyết bảo vệ nền độc lập dân tộc. Đó chính là đòn đánh mạnh vào âm mưu chia rẽ của kẻ thù, góp phần nâng cao uy tín của chính quyền cách mạng và Mặt trận Việt minh. Sau cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân, chính quyền cách mạng từ huyện tới các xã được kiện toàn thêm một bước.

Trước yêu cầu và nhiệm vụ của thời kỳ mới, được sự thống nhất chỉ đạo của Tỉnh ủy, tháng 2-1946 Ban cán sự Lục Ngạn được chuyển thành Phủ uỷ Lục Ngạn do đồng chí Lan Cường (Trịnh Đình Lan) làm Bí thư, đồng chí Phương Minh Nam làm Phó Bí thư. Tháng 7-1946, Đại hội đảng bộ lần thứ nhất Phủ Lục Ngạn đã bầu 11 đồng chí vào Ban chấp hành[4].

Thực hiện Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, các cấp ủy, chính quyền tích cực triển khai hàng loạt nhiệm vụ để đáp ứng với yêu cầu kháng chiến kiến quốc, trong đó tập trung củng cố xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và các đoàn thể vững mạnh, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương... Trong công tác xây dựng Đảng, phát triển đảng viên mới, nhờ vậy số l­ượng đảng viên tăng nhanh.

Sau ngày giặc Pháp đưa quân chiếm đóng, là địa phương nằm trong vùng địch hậu, nhân dân các xã đã thể hiện rõ truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất, thực hiện đường lối kháng chiến của Đảng. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác t­ư t­ưởng, Đảng bộ đặc biệt chú trọng công tác tuyên truyền về đ­ường lối kháng chiến "làm cho nhân dân hiểu vì sao phải đánh, đánh để làm gì, làm thế nào để thắng, đánh nhất định khổ, nh­ưng nhất định thắng lợi"[5]. Thực hiện khẩu hiệu "ng­ười có tiền giúp tiền, kẻ có sức giúp sức, ngư­ời có tài chí giúp tài chí, không một sức nào bỏ phí, không sức mạnh nào đứng ngoài cuộc chiến đấu, không một sức nào thừa"[6]. Trong hoàn cảnh Đảng hoạt động bí mật, các chi  bộ trong huyện đều lấy danh nghĩa Việt Minh để tổ chức các cuộc mít tinh, tuyên truyền xung phong giải thích đ­ường lối kháng chiến của Đảng. Nội dung tuyên truyền thời kỳ này là triệt để tin tưởng vào Chủ tịch Hồ Chí Minh, quán triệt đường lối trư­ờng kỳ kháng chiến, toàn dân kháng chiến, chống thực dân phản động Pháp, nhằm hoàn thành các nhiệm vụ xây dựng lực l­ượng dân quân, du kích, tòng quân, ủng hộ bộ đội, phòng gian bảo mật, động viên sản xuất, xoá mù chữ, củng cố chính quyền và các đoàn thể ở địa ph­ương. Lực l­ượng vũ trang của các xã trong huyện đ­ược thành lập sớm, tr­ưởng thành mau chóng qua các đợt diệt phỉ, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở địa phư­ơng. Nhiều đơn vị tự vệ, du kích xã đư­ợc xây dựng và củng cố, hầu nh­ư thôn nào cũng có một trung đội tự vệ, mỗi xã một đại đội tự vệ. Phong trào rèn sắm vũ khí, luyện tập quân sự phát triển mạnh trong xã. D­ưới sự lãnh đạo của các chi bộ, các đoàn thể quần chúng các xã tích cực vận động mọi tầng lớp nhân dân góp tiền mua sắm vũ khí, góp gạo nuôi các đơn vị tự vệ, du kích luyện tập quân sự.

Đến tháng 7-1946, trên địa bàn huyện, nhiều xã đã có chi bộ ghép, hoặc chi bộ bộ phận như Vô Thanh, Nam Sơn, Nghĩa Phương. Các đồng chí đảng viên có năng lực, nhiệt tình trong công tác đã được bầu vào Hội đồng nhân dân và được cử giữ các chức vụ chủ chốt trong Uỷ ban hành chính các liên xã.

Các đoàn thể cứu quốc được củng cố, phát triển về số lượng và chất lượng. Tại phố Lục Nam Hội văn hoá cứu quốc, hội công chức được thành lập, các Hội nông dân, Phụ nữ, Phụ lão, Thanh niên, Thiếu niên cứu quốc đẩy mạnh công tác đoàn kết, tập hợp các tầng lớp nhân dân là cơ sở vững chắc hỗ trợ chính quyền thực hiện mọi nhiệm vụ chính trị ở địa phương, và động viên tham gia tích cực vào công cuộc kháng chiến kiến quốc.

2. Xây dựng lực lượng vũ trang, chuẩn bị kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Với dã tâm trở lại xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp ngày càng lấn tới . Chúng ngang nhiên vi phạm Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946, liên tiếp khiêu khích và gây xung đột với ta ở nhiều nơi. Ngày 17,18-12-1946, quân Pháp trắng trợn đánh chiếm một số nơi thuộc thủ đô Hà Nội và gửi tối hậu thư đòi Chính phủ ta phải đầu hàng.

Trước vận mệnh sống còn của đất nước, ngày 18-12-1946, tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp Hội nghị khẩn cấp, quyết định phát động nhân dân cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. Đêm 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

Thực hiện quyết định của Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay đêm 19-12-1946, quân dân Hà Nội đã nổ súng bảo vệ Thủ đô, mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trên toàn quốc. Phối hợp với Hà Nội, quân dân Bắc Giang đã tổ chức tiến công địch đang đồn trú tại Phủ Lạng Thương.

Nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc chiến tranh ngày càng lan rộng và thực hiện chủ trương của Bộ quốc phòng về việc xây dựng, kiện toàn lực lượng dân quân du kích, tự vệ địa phương, thiết lập hệ thống chỉ huy từ Trung ương đến cấp xã, Tỉnh uỷ trực tiếp chỉ đạo thành lập đội du kích tập trung ở các huyện, đồng thời tổ chức ra các ban chỉ huy quân sự từ tỉnh đến cơ sở. Quán triệt sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Huyện ủy đã tăng cường tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia kháng chiến và động viên thanh niên tòng quân. Huyện đã xây dựng được một số đội du kích tập trung. Bên cạnh lực lượng du kích tập trung, các đội lão du kích, nữ du kích, thiếu niên du kích cũng được hình thành ở nhiều địa phương và đều tích cực hoạt động. Các cụ lão du kích tổ chức huấn luyện quân sự với súng gỗ, giáo mác, mã tấu, tuyên truyền cổ động nhân dân tham gia kháng chiến và khích lệ thanh niên tòng quân.

Xây dựng lực lượng vũ trang là một trong những nhiệm vụ cấp bách, trọng tâm của địa phương, nên các cấp uỷ đảng trong huyện đều quan tâm và tập trung triển khai thực hiện. Ngay từ đầu năm 1947, một số huyện uỷ viên được cử sang phụ trách công tác quân sự từ huyện xuống đến các xã, các chi bộ đều cử 1/3 số đảng viên tham gia du kích, xây dựng các đơn vị du kích tập trung, bổ sung quân số cho tỉnh và bộ đội chủ lực.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của các cấp uỷ đảng và chính quyền, lực lượng: bộ đội địa phương huyện và dân quân du kích các xã phát triển nhanh chóng. Lực lượng vũ trang ra sức hoạt động, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong xây dựng, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu.

Lực lượng vũ trang ở phủ Lục Ngạn được thành lập sớm, trưởng thành mau chóng, qua các đợt diệt phỉ, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Lục Ngạn và một số địa phương bạn. Sau khởi nghĩa, đơn vị vũ trang cùng với giải phóng quân tiến về Hà Nội tham dự ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập 2-9-1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nhiều đơn vị tự vệ, du kích xã được xây dựng và củng cố nhằm đối phó với những hành động chống phá của thổ phỉ, các đảng phái phản động nấp sau quân đội Tưởng. Hầu như thôn nào cũng có một trung đội tự vệ, mỗi xã một đại đội tự vệ. Một số xã thành lập tiểu đội, trung đội du kích do các đồng chí uỷ viên quân sự phụ trách. Phong trào rèn sắm vũ khí, luyện tập quân sự phát triển ở mọi nơi. Chính quyền các cấp, các đoàn thể quần chúng tích cực vận động mọi tầng lớp nhân dân góp tiền mua sắm vũ khí, góp gạo nuôi các đơn vị tự vệ, du kích luyện tập quân sự. Nhiều thanh niên tự vệ, du kích đã ra nhập giải phóng quân hoặc ghi tên vào các đơn vị Nam Tiến. Trong đội Nam Tiến Bắc-Bắc (Bắc Ninh – Bắc Giang) do đồng chí Lư Giang chỉ huy có nhiều chiến sĩ của quê hương đã lên đường chiến đấu cùng đồng bào miền Nam ngay từ những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến.

Cuối năm 1946, không khí đánh Pháp sôi nổi ở địa phương. Thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến với nguyên tắc: cái gì có lợi cho địch, hại cho ta, ta không giữ được thì đốt phá hoặc cất dấu. Nhiều xã thành lập “ban phá hoại” để chỉ huy, hướng dẫn tự vệ, du kích và nhân dân phá cầu, đào hố đắp ụ trên đường giao thông, cắm kè ngăn sông để cản xe cơ giới và canô địch tấn công. Nhiều cụ già, phụ nữ, thiếu thi cũng tham gia đào hố, đắp ụ trên các tuyến đường 13, đường 173, đường đê và kè chợ Sa trên sông Lục Ngạn.

Ở những nơi có vị trí quan trọng trên tuyến đường giao thông như phố Lục Nam, Cầu Lồ, Gàng (Vô Tranh) thực hiện triệt để “vườn không nhà trống” tiêu thổ kháng chiến. Nhân dân các nơi này sơ tán vào sâu trong rừng núi, vừa sản xuất vừa xây dựng lực lượng chuẩn bị chiến đấu vừa thực hiện đầy đủ mọi nghĩa vụ đóng góp cho chính phủ kháng chiến.

Thực hiện khẩu hiệu “mỗi làng một mặt trận, mỗi xóm là một ổ du kích, công việc xây dựng làng chiến đấu được triển khai nhanh chóng ở nhiều nơi như Yên Sơn, Tam Dị, Đan Hội, Bảo Đài, Bảo Sơn… các làng Cổ Mân (Yên Sơn), Thanh Giã (Tam Dị) trở thành những trận địa phòng ngự.

Ngày 12-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập dân quân, tự vệ trong toàn quốc. Ngày 19-2-1947, Bộ Quốc phòng ra thông tư về việc tổ chức lực lượng dân quân, tự vệ, du kích địa phương và hệ thống lãnh đạo chỉ huy từ Trung ương đến xã, cùng với sắc lệnh thành lập ban chỉ huy tỉnh đội, huyện đội, xã đội. Tỉnh uỷ Bắc Giang cũng ra nghị quyết về việc thành lập các đội du kích tập trung ở tất cả các huyện, thị xã và lập hệ thống lãnh đạo quân tự vệ do cơ quan quân sự các cấp đảm nhiệm dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp uỷ đảng.

Tháng 3-1947 thực dân Pháp tổ chức 1 trung đoàn từ Hải Ninh tấn công vào Sơn Động, Lục Ngạn. Vì lực lượng địch rất mạnh lại trang bị vũ khí đầy đủ, hiện đại nên bộ đội và du kích phải vừa đánh vừa rút lui để bảo toàn lực lượng. Thừa thế, quân địch theo đường 13 tràn xuống trong một thời gian ngắn. Đến cầu Mỗ Sơn (Chu Điện) thì địch phải dừng lại vì cầu bị phá sập. Lợi dụng địa thế, quân ta gây cho địch một số thiệt hại, buộc chúng phải theo đường 13 rút quân và chiếm đóng từ Chũ trở lên. Cánh quân khác của địch từ Hải Phòng, Hải Dương đánh lên Phả Lại rồi theo đường sông Lục Nam đến chợ Sa (Đan Hội) thì bị kè chắn trên sông không qua được cũng phải quay lại.

Do mới thành lập nên khả năng tác chiến của bộ đội và dân quân du kích địa phương còn thấp, vũ khí trang bị thô sơ, thiếu phương án tác chiến. Sau khi quân Pháp rút khỏi địa bàn lần thứ nhất (3-1947) nhiệm vụ củng cố phát triển lực lượng vũ trang địa phương trở nên cấp bách. Các cấp uỷ đảng cũng như chính quyền, đoàn thể và nhân dân các xã đặc biệt quan tâm ủng hộ, giúp đỡ dân quân du kích vũ khí, lương thực. Các ban chỉ huy xã đội được thành lập trực tiếp chỉ huy các đội dân quân, du kích. Ngoài vũ khí thô sơ như dao, kiếm, mã tấu, nhiều đội du kích đã trang bị thêm được lựu đạn, súng trường hoặc súng kíp. Các đội viên du kích được huấn luyện cách sử dụng vũ khí bộ binh thông thường, thực hành tác chiến từ tiểu đội đến trung đội. Ở các xã có làng chiến đấu, dân quân du kích xã thường xuyên luyện tập đánh địch trên địa bàn bố trí sẵn nhằm bồi dưỡng kỹ thuật đánh du kích cho mỗi cá nhân, qua đó góp phần cổ vũ phong trào ủng hộ tiền gạo quần áo cho bộ đội, dân quân du kích luyện tập quân sự. Ở mỗi thôn có ban chỉ huy thôn đội dân quân. Lực lượng dân quân các xã với số lượng đông đảo là nòng cốt hỗ trợ đắc lực cho bộ đội và du kích chiến đấu. Chi bộ Yên Sơn cùng ban chỉ huy xã đội tập trung xây dựng và củng cố lực lượng dân quân du kích địa phương, được Tỉnh uỷ đánh giá là hai đơn vị khá.

Đến tháng 9-1947, hầu hết các xã trên địa bàn thành lập Ủy ban kháng chiến hành chính hoặc sáp nhập Ủy ban kháng chiến và Ủy ban hành chính thành Uỷ ban kháng chiến hành chính để điều hành mọi công việc và lãnh đạo nhân dân địa phương chuẩn bị bước vào cuộc chiến đấu trực diện với kẻ thù xâm lược.

3. Chống địch càn quét, bảo vệ hậu phương (1947- 1949)

Ngày 7-10- 1947 thực dân Pháp huy động hơn hai vạn quân tinh nhuệ gồm hải, lục, không quân tấn công Việt Bắc nhằm tiêu diệt chủ lực và cơ quan đầu não kháng chiến. Phạm vi chiến dịch rộng tới 12 tỉnh với nhiều mũi thọc sâu hòng bao vây căn cứ  địa. Pháp âm mưu mở rộng phạm vi chiếm đóng, gây dựng các toán biệt kích, thổ phỉ, lấy đây làm bàn đạp chiếm đóng rộng ra trong vùng. Tháng 10-1947 thực dân Pháp huy động một lực lượng mạnh và thổ phỉ từ Biển Động, An Châu, Chũ theo đường 13 kéo xuống và theo đường sông từ Phả Lại đánh lên, lập các đồn bốt Cẩm Lý, Chợ Sa(1), Bến Giáo, Đồi Ngô, Dốc Ải, Đầm… để rồi tổ chức càn quét ra xung quanh nhằm phá cơ sở kháng chiến. Sau khi đưa quân đóng chốt, chúng bắt phu xây dựng đồn bốt, dùng mọi hình thức lừa gạt, mị dân nhằm tuyên truyền, lôi kéo nhân dân tản cư về lập tề nguỵ.

Sau thất bại ở Việt Bắc thu đông 1947, địch tăng cường củng cố các vị trí chiếm đóng (đào hào, lập rào chắn, gài mìn). Có vị trí địch bố trí tới 5 lớp hàng rào có gài mìn tự động, canh phòng cẩn mật ngày đêm, quân lính được trang bị vũ khí khá mạnh.

Ở vị trí Dốc Ải có 26 thổ phỉ, 4 lính Pháp với 12 súng máy 28 súng trường;  vị trí Đồi Ngô có 50 lính Pháp, 50 thổ phỉ, 1 súng cối và 25 súng trường; vị trí Đồi Gáo có 4 lính Pháp, 25 thổ phỉ với 1 súng cối và 25 súng trường; vị trí Chùa Gáo có 4 lính Pháp, 25 thổ phỉ được trang bị súng trường  Mỹ; vị trí Cẩm Lý, Chợ Sa cũng có hàng trung đội lính Pháp được trang bị súng cối, trung liên… Các vị trí này đều thuộc phân khu biên giới.

Cuối năm 1947, kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp bị phá sản, bước sang năm 1948, chúng phải chuyển sang đánh lâu dài, quay về bình định, củng cố vùng đã chiếm đóng, lấn chiếm vùng tự do. Tại địa bàn, đến đầu năm 1948, thực dân Pháp đã kiểm soát được 7 xã: Tam Dị, Bắc Lũng, Yên Sơn, Tiên Hưng, Cẩm Lý, Vũ Xá, Đan Hội. Tại vùng kiểm soát, chúng dùng mọi thủ đoạn lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc các toán thổ phỉ, lập các nhóm phản động làm tay sai, tăng cường bắn phá, cướp bóc nhân dân, đàn áp, bắn giết những người không theo chúng hoặc nghi là Việt Minh, những gia đình có người tham gia kháng chiến. Cùng với việc đưa quân vào phá làng, phá hoại mùa màng, ngăn cấm đem lương thực ra vùng tự do, chúng thường xuyên lùng sục vào các làng quanh vị trí chiếm đóng bắt lợn, gà, buộc các thôn phải bầu ra một lý trưởng làm đại diện liên lạc, vì vậy đã gây cho cuộc sống nhân dân hết sức khó khăn.

Đến giữa năm 1948, 7 xã trong vùng địch tạm chiếm có ngụy quyền, 2/3 số thôn trong các xã này lập tề, nhưng do được chính quyền cách mạng giác ngộ nên hầu hết các lý trưởng, hội tề đều làm việc cho ta. Có nơi đồng chí bí thư chi bộ được cài làm lý trưởng. Chỉ có thôn Già Khê (Tiên Hưng) là tề phản động. Ngoài lý trưởng và phó lý, địch còn dựng lên chánh tổng, phó tổng để làm tay sai cho chúng. Ở vị trí Đồi Ngô, tên quan 2 Pháp đồng thời là sĩ quan tình báo phụ trách việc liên lạc với các lý trưởng để lập hội tề. Hàng tuần, vào thứ 2, tên này họp các chánh tổng, lý trưởng để nắm tình hình, hiểu dụ và giao chỉ tiêu bắt phu, cung cấp thực phẩm phục vụ cho các đồn bốt. Có công việc đột xuất hắn đưa lệnh xuống cho chánh tổng, để phân bổ cho các lý trưởng. Thôn nào không đủ phu, chống lại lệnh hoặc không liên lạc với chúng, liền bị nã súng cối hoặc súng máy uy hiếp.

Nắm được âm mưu của địch, Trung ương Đảng và Liên khu uỷ I đã ra Nghị quyết nêu rõ phải đẩy mạnh việc tuyên truyền tăng cường đoàn kết quân dân, tập trung phá âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, “dùng người Việt trị người Việt” của thực dân Pháp, ra sức phát triển chiến tranh du kích và tích cực mở rộng cơ sở kháng chiến trong vùng địch tạm chiếm.

Thực hiện Nghị quyết của Liên Khu uỷ và sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, các Huyện uỷ cử nhiều cán bộ, đảng viên về các xã để xây dựng, củng cố và mở rộng cơ sở quần chúng, cơ sở đảng, chính quyền các xã trong vùng địch tạm chiếm được. Hầu hết các thôn đều có trưởng thôn phụ trách chung. Các bộ phận như văn hoá - thông tin, bình dân học vụ, dân quân và giao thông đều tích cực hoạt động bí mật ngay trong lòng địch, chỉ đạo lý trưởng làm việc theo chủ trương của Đảng và Chính phủ. Chính quyền các xã đã có nhiều cố gắng trong việc tổ chức đấu tranh chống địch bắt trẻ em đi phu, vận động nhân dân không nghe địch tuyên truyền phản động, v.v… Các cấp uỷ viên và đảng viên từ huyện đến cơ sở đều hăng hái tham gia lực lượng vũ trang, thực hiện khẩu hiệu “Chiến đấu để bảo vệ sản xuất”, “Ngày chiến đấu, đêm sản xuất”. Các đồng chí bí thư chi bộ, chủ tịch xã trực tiếp làm chính trị viên xã đội, xã đội trưởng lãnh đạo, chỉ huy chiến đấu bảo vệ nhân dân, động viên nhân dân tích cực tham gia đóng góp lương thực, thực phẩm ủng hộ bộ đội huyện và du kích địa phương. Bộ đội và du kích đã tổ chức diệt nhiều tên tề phản động và trùm phỉ gian ác, thu nhiều súng đạn các loại.

Phong trào thi đua yêu nước do Tỉnh phát động được lực lượng vũ trang và nhân dân các xã nhiệt tình hưởng ứng. Nông dân ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm và tích cực đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến. Lực lượng vũ trang ở các xã ngày đêm ra sức luyện tập quân sự. Cơ quan quân sự địa phương tổ chức phổ biến rộng rãi trong dân quân du kích và nhân dân cách đánh chông mìn, cạm bẫy. Nhiều lớp bồi dưỡng kỹ – chiến thuật, chỉ huy chiến đấu cho cán bộ xã đội được tổ chức. Cán bộ, đảng viên tích cực học tập quân sự để biết những động tác cơ bản trong chiến đấu. Cán bộ cấp huyện và bí thư chi bộ nghiên cứu, học tập tìm hiểu về chiến lược quân sự và công tác tư tưởng trong chiến đấu. Trong quá trình huấn luyện, với phương châm “học đi đôi với hành”, “lý luận gắn liền với thực tiễn”. Sau các cuộc vận động phá tề, các cơ sở kháng chiến, vùng du kích, căn cứ du kích trên địa bàn được củng cố và mở rộng.

Nhằm đối phó với những âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt và những hoạt động càn quét ngày càng quyết liệt của địch, lực lượng các ngành được tập trung vào việc khắc phục những khó khăn về vũ khí, đạn dược và phương pháp tác chiến để đương đầu với địch, xây dựng lực lượng, đẩy mạnh du kích chiến tranh vùng tạm chiếm. Để tăng cường sự lãnh đạo và sức mạnh của Đảng trong lực lượng vũ trang, cuối năm 1947 đầu năm 1948 hầu hết các chi bộ xã đều có một ủy viên phụ trách quân sự, 1/3 số đảng viên chi bộ vào du kích xã.

Do quán triệt sâu sắc đường lối kháng chiến của Đảng nên khi quân Pháp đánh chiếm (tháng 10- 1947), nhân dân hầu hết các xã đều thực hiện vườn không nhà trống. Đại đội du kích tập trung Lục Ngạn cùng với du kích các xã Yên Sơn, Tam Dị, Nam Sơn (nay là Cương Sơn và Huyền Sơn) đã tổ chức nhiều trận chống càn, quấy rối vị trí địch, chống dồn dân lập tề. Du kích Yên Sơn đã đánh địch quyết liệt khi chúng càn vào làng Chung Thịnh. Trong trận này, du kích xã đã chiến đấu ngoan cường, gây cho địch thiệt hại lớn. Đặc biệt, một lão dân quân xã đã dùng mã tấu chiến đấu và hy sinh anh dũng. Du kích Nghĩa Phương và Nam Sơn phục kích chống càn tại Bãi Sỏi (Nam Sơn) bắn trọng thương 2 tên. Tiêu biểu nhất là trận chống càn ngày 1-12-1947 và 4-12-1947 khi địch càn vào làng Thanh Giã. Lực lượng của ta tham gia chiến đấu rất nhỏ bé, chỉ có một đại đội du kích tập trung của huyện và 2 trung đội du kích xã Tam Dị phải đối đầu với quân địch có trang bị hiện đại, được yểm trợ của xe tăng. Chiều ngày 1- 12- 1947, một đại đội bộ binh cùng 3 xe tăng tấn công vào làng, chúng phải đối đầu với sự kháng cự mạnh mẽ của du kích, không thể tiến vào làng, buộc phải rút lui. Ta tranh thủ thời gian địch rút quân đào hào, đắp luỹ, củng cố công sự, sẵn sàng đối phó với các đòn tấn công tiếp theo của địch. Ngày 4- 12, địch điều động một tiểu đoàn cùng 5 xe tăng, chia làm 3 mũi bao vây làng Bân và Thanh Giã. Cuộc chiến đấu không cân sức diễn ra quyết liệt. Sau gần 6 giờ tấn công, địch không vẫn không tiến vào được làng. Kết thúc trận đánh, ta diệt tại chỗ 16 tên, làm bị thương nhiều tên khác, chiều tối buộc phải rút quân.

Trận chống càn Thanh Giã thắng lợi đã chứng minh trên thực tế khả năng của du kích địa phương dựa vào làng chiến đấu hoàn toàn có thể đánh thắng những trận càn của địch với lực lượng và trang bị hơn ta gấp nhiều lần.

Sau chiến thắng Thu Đông 1947, các đơn vị bộ đội chủ lực đóng quân trên địa bàn Bắc Giang được bổ sung lực lượng và đã trưởng thành qua thực tế chiến đấu. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về việc phân nhỏ các đơn vị bộ đội chính qui và địa phương về các cơ sở để thúc đẩy du kích chiến tranh. Tháng 1-1948, Khu uỷ 12 (1) điều Đại đội 102 về hoạt động ở địa phương với nhiệm vụ giúp đỡ, huấn luyện kinh nghiệm tác chiến cho bộ đội địa phương và dân quân du kích, phối hợp chiến đấu tiêu hao sinh lực địch, quấy rối các vị trí đóng quân của địch. Đại đội chia thành các tiểu đội về các xã, trong đó có một tiểu đội được phân công về làng Thanh Giã (Tam Dị). Thanh Giã có nhà thờ Thiên Chúa giáo kiên cố do linh mục Chấn làm mục vụ, nằm trong xứ đạo Đại Lâm. Trong làng có một số người bị bắt đi lính cho Pháp. Ngay từ khi chiếm đóng Lục Nam, thực dân Pháp đã chú ý xây dựng Thanh Giã thành tề phản động, một điểm đóng quân quan trọng của chúng.

Cuối tháng 1- 1948, tại một phiên chợ chiều họp rất đông, lính Pháp và lính ngụy kéo nhau ra quấy nhiễu, chiến sĩ Tiểu đội 102 cải trang thành dân thường lọt vào giữa chợ dùng dao găm tấn công chớp nhoáng, diệt 7 tên, rồi rút lui an toàn. Chiến công này của lực lượng vũ trang ta đã cổ vũ tinh thần nhân dân địa phương, làm cho bọn phản động, tề ngụy hết sức hoang mang lo sợ.

Là địa phương có phong trào du kích mạnh, nhân dân kiên cường, từ năm 1948, địch thường xuyên tổ chức các cuộc càn quét, đánh phá. Đầu năm 1948, tại tất cả các xã tạm bị chiếm trên địa bàn, Ủy ban kháng chiến hành chính vẫn đứng vững và duy trì các hoạt động tổ chức nhân dân kháng chiến, các thôn vẫn có trưởng thôn phụ trách (trừ thôn Già Khê, Tiên Hưng). Các ban, ngành trong xã như: thông tin, văn hóa, quân sự... chuyển vào hoạt động bí mật. Các ủy ban kháng chiến hành chính chỉ đạo, điều hành các hoạt động của các lý trưởng. Khi các lý trưởng nhận được mệnh lệnh gì của Pháp đều phải trình báo với ủy ban kháng chiến hành chính xã để định kế hoạch đối phó, không được tự ý thi hành. Nếu nhận được lệnh của Pháp mà lý trưởng chưa kịp báo cáo cho ủy ban xã thì phải tìm mọi cách trì hoãn để có thời gian, biện pháp bố trí thích hợp. Chi bộ Đảng và các ủy ban kháng chiến hành chính xã tích cực lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống địch bắt trẻ em đi phu, ngăn cản người lớn đi phu để số người đi thấp hơn số địch yêu cầu, tuyên truyền nhân dân không đi nghe Pháp hiểu dụ, tịch thu thẻ căn cước phát cho dân để chúng không thể kiểm soát được. Nhân dân xã Bảo Đài đi tản cư hết nên chi bộ, đảng viên cùng đi với dân, để vận động nhân dân khắc phục mọi khó khăn, tin tưởng vững chắc vào đường lối kháng chiến của Đảng, các chi bộ ở các xã trong vùng địch kiểm soát đều kiên cường, bám dân, bảo vệ làng, chống địch càn quét.

Ngày 9- 2- 1948 (tức 30 Tết Mậu Tý), quân Pháp từ Đồi Ngô càn xuống làng và bắn giết, cướp phá Đông Phú. Tự vệ xã Đông Phú phối hợp với du kích tập trung huyện chặn đánh quyết liệt buộc địch phải rút lui, bảo vệ cho nhân dân ăn Tết an toàn. Ngày 7-3-1948, quân Pháp từ Dốc Aỉ, Cầu Lồ càn vào Đông Thịnh (Yên Sơn) giết 10 người dân. Trong trận này, một chiến sĩ  bộ đội và một lão dân quân đã dũng cảm chiến đấu và anh dũng hy sinh. Đầu năm 1948, địch ở các bốt Chỉ Tác, Đồi Ngô thường càn quét vào Nghĩa Phương. Cùng với việc liên tục tiến hành các cuộc càn quét, đánh phá, quân Pháp tổ chức phục kích để bắt cán bộ, du kích. Nhiều lần chúng tập trung một đại đội phục kích tại cánh đồng làng Quỷnh, đồng Quán Thổ nhằm đón lõng, bắt cán bộ, du kích. Du kích Nghĩa Phương nghi binh, dùng hiệu lệnh trống gọi loa xung phong làm chúng phải rút quân. Du kích Nghĩa Phương cũng tổ chức quấy rối, bắn tỉa bọn địch ở bốt Đồi Thông ra bến Ngạc tắm. Cuối tháng 6- 1948, địch lập tề ở thôn Ngạc nhưng đội du kích thôn vẫn hoạt động mạnh, quấy rối, tiêu hao sinh lực địch và đánh đắm 3 thuyền địch trên sông.

Ngày 21- 7- 1948, 2 đại đội của Trung đoàn Bắc- Bắc (E36) tổ chức tấn công bốt Cẩm Lý. Sau khi đã nghiên cứu kỹ địa hình và quy luật hoạt động của địch, lợi dụng việc quân Pháp hàng ngày bắt phu gánh vật liệu xây dựng lên đồn để xây công sự, các chiến sĩ đã cải trang thành phụ nữ gánh vật liệu vào đồn giữa ban ngày, bọn địch không hề nghi ngờ. Khi đã vào vị trí thuận lợi, hiệu lệnh nổi lên, toàn đơn vị nhất loạt rút giao găm, đoản kiếm tiêu diệt gọn trung đội lính da đen.

Trận tiêu diệt đồn Cẩm Lý giữa ban ngày làm nức lòng nhân dân, cổ vũ tinh thần các đội dân quân du kích địa phương. Bọn địch đóng ở các vị trí Dừa (Chỉ Tác), Đồi Ngô, Đồn Giáo, Chùa Giáo, Chợ Sa và bọn tề phản động vô cùng hoảng sợ. Bị tiêu diệt bất ngờ, quân pháp điên cuồng cho quân tàn sát đồng bào địa phương. Trận Cẩm Lý thắng lợi đã động viên tinh thần, hỗ trợ đắc lực cho đợt tổng giải tán hội tề tại các xã tạm chiếm ở địa phương vào cuối tháng 7, đầu tháng 8- 1948. Lúc này, ở tất cả các thôn, làng đều có một tổ đến một tiểu đội du kích, mỗi xã đều có một trung đội du kích. Du kích các xã Tiên Hưng, Cương Sơn được Tỉnh ủy Bắc Giang biểu dương thành tích. Tháng 8- 1948, hầu hết các xã tạm chiếm trên địa bàn đã giải tán hội tề.

Liên xã Tiên Hưng sau khi thực hiện lệnh diệt tề, chỉ còn 2 thôn Già Khê và Nhật Đức là còn ban tề phản động, ta chưa giải tán được. Tại đây, bọn tề ngụy lập ra đội kiểm soát giả danh công an,  thấy người nào khả nghi là du kích, Việt Minh là chúng vây bắt. Ban đêm chúng thường tuần tra, lùng sục, kiểm soát thuyền bè, cướp hàng hoá của những người buôn bán.

Ngày 15-10-1948, quân Pháp nhảy dù xuống Mai Sưu (Trường Sơn) để càn quét, tiêu diệt bộ đội, du kích, cướp lợn, gà, thóc lúa của nhân dân. Do bị động và bất ngờ nên các lực lượng vũ trang địa phương không kịp thời đối phó với hành động của địch (1). Phối hợp với quân nhảy dù là một cánh quân bộ tiến dọc đường 173 từ phố Lục Nam vào Nghĩa Phương, chúng càn từ Dùm đến Mường Làng. Du kích Nghĩa Phương đã triển khai mai phục địch tại núi Tào, bắn vào giữa đội hình địch làm bị thương một số tên.

Trong các cuộc càn quét, theo sau binh lính Pháp là các toán thổ phỉ đi cướp bóc của cải của nhân dân các làng bản, nhằm kích động gây chia rẽ dân tộc. Đồng thời chúng ra sức tuyên truyền, lừa bịp về chính phủ bù nhìn Bảo Đại, ca ngợi sức mạnh quân sự của Pháp – Mỹ, bôi nhọ Việt Minh, xuyên tạc đường lối kháng chiến, chiến lược đoàn kết dân tộc của Đảng, lôi kéo những phần tử xấu phá hoại cách mạng.

Để tăng cường lực lượng quân sự trong vùng, cuối năm 1948 đầu năm 1949 Pháp đã đặt thêm 3 cơ sở phòng nhì tại Chũ, Đôi Ngô và Phả Lại. Phụ trách các cơ sở phòng nhì này đều là các sĩ quan Pháp. Chúng tung do thám, gián điệp vào các làng lân cận vị trí chiếm đóng và các xã vùng tự do, điều tra vị trí đóng quân của bộ đội và nơi dừng chân của các cơ quan sơ tán để chỉ điểm cho phi pháo oanh tạc hoặc bao vây, càn quét.

Nhằm chống lại những hoạt động tình báo của địch, Ty Công an Bắc Giang cùng với công an quận 7 (phụ trách địa bàn Lục Nam) và cơ sở địa phương đã tiến hành cài người vào hoạt động tại các vị trí: Cẩm Lý, Chỉ Tác, Bến Giáo, Chùa Giáo, Đồi Ngô, Già Khê, Đồi Thông… để nắm danh sách chỉ huy, do thám của địch thường ra vào hậu phương của ta hoạt động, và những hành động chống phá của bọn phản động, để biết trước các trận càn quét  của địch, có kế hoạch đối phó kịp thời. Ngoài ra ta còn phá được một số mìn tự động của địch xung quanh vị trí Chùa Giáo, mua và lấy của bọn phỉ ở Bến Giáo một số lựu đạn, liên lạc với người của ta trong hàng ngũ địch giải thoát được 7 người bị địch bắt trong các trận càn (trong đó có 2 bộ đội). Từ cuối năm 1948 đầu năm 1949 ta đẩy mạnh các hoạt động quân sự, chính trị để giải tán hết các ban tề trên địa bàn. Du kích các xã tăng cường quấy rối, bắn tỉa, chặn đường giao thông v.v… khiến bọn địch ở các vị trí co cụm, không dám tự do càn quét, cướp phá. D­ưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, lực l­ượng vũ trang trong tỉnh tiếp tục được xây dựng, củng cố và đã tích cực tổ chức chiến đấu phá tan nhiều cuộc càn quét, nhiều ban tề của địch, tiêu diệt hàng trăm tên phỉ cùng bọn tay sai. Vùng tự do ngày càng đ­ược mở rộng với gần một vạn dân đ­ược giải phóng.

Trong tháng 12-1948, trên mặt trận Lục Ngạn, bộ đội và dân quân du kích đã diệt được 82 tên Pháp, phỉ, phá huỷ 1 xe dép, 3 xe vận tải và 1 súng 12,7 ly, bắt 2 việt gian phản động, lấy lại được 11 con trâu bị địch cướp trong các cuộc đi càn trả lại cho dân, giải tán hết các hội tề.

Thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, cùng với lãnh đạo đẩy mạnh hoạt động quân sự đánh địch, tổ chức Đảng các xã tổ chức nhân dân tích cực lao động sản xuất, bảo đảm cuộc sống và đóng góp nuôi bộ đội, du kích. Tại vùng tự do, chi bộ, chính quyền các xã đã tập trung lãnh đạo nhân dân tích cực thi đua lao động sản xuất, đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến, chuẩn bị các điều kiện cho tổng phản công. Vùng tự do đ­ược bảo vệ, đã tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp phát triển. Nhân dân các địa ph­ương đều tích cực đắp lại các đoạn đê bị sạt lở, sửa chữa và làm thêm cống lấy n­ước sông, máng t­ưới cho lúa, hoa màu. Khẩu hiệu “Tấc đất, tấc vàng” được nhân dân thực hiện triệt để. Những ruộng hoang, đất trống đều được tận dụng trồng các loại cây lương thực. Phong trào làm thủy lợi được nhân dân chú ý, nhân dân đóng góp hành nghìn ngày công để đào đắp, tu bổ kênh mương, bờ vùng, bờ thửa, mở rộng diện tích lúa và hoa màu. Chăn nuôi cũng có bư­ớc phát triển đáng kể. Ở một số địa phương tuy bị địch càn quét cư­ớp phá, nh­ưng vẫn cố gắng duy trì đàn trâu, bò, lợn, gia cầm phục vụ sản xuất, đời sống và cung cấp một phần cho lực l­ượng vũ trang.

Các ngành tiểu thủ công nghiệp như­ rèn, đúc, nuôi tằm, dệt vải, làm giấy,... được duy trì và có bước phát triển, phục vụ nhu cầu thiết yếu tại chỗ. Các xã Bảo Sơn, Bảo Đài, Lan Mẫu có nhiều rừng dứa nên chính quyền đã vận động nhân dân phát triển nghề kéo sợi tơ dứa. Trung bình mỗi tháng, các xã này cũng sản xuất được 50 kg sợi tơ dứa. Các ngành nghề thủ công khác như dệt vải, cán bông xe sợi, sản xuất đồ dùng thuỷ tinh, làm gốm, nung vôi vẫn được duy trì, cung cấp và đáp ứng nhu cầu tại chỗ của nhân dân, góp phần phục vụ kháng chiến. Ngành tài chính th­ường xuyên đôn đốc nhân dân các xã nộp đủ các loại thuế: điền thổ, tr­ước bạ, môn bài.

Phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục – thể thao ở các xã, đơn vị, cơ quan, tr­ường học đ­ược đẩy mạnh. Sách báo của Đảng đ­ược phát hành ở nhiều xã . Các đội văn hoá - thông tin tích cực đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến chủ trư­ơng, chính sách của Đảng và Chính phủ trong nhân dân,  phục vụ kháng chiến, kiến quốc. Đời sống tinh thần của nhân dân từng b­ước đ­ược nâng lên.

Ngành giáo dục có bước phát triển. Năm học 1947-1948, số học sinh tiểu học và trung học các xã tăng lên rõ rệt. Phong trào bình dân học vụ phát triển sâu rộng thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Nhiều xã, thôn đư­ợc Chính phủ và chính quyền địa phư­ơng công nhận xoá xong nạn mù chữ. Trình độ văn hoá đ­ược nâng lên, là một trong những điều kiện quan trọng để nhân dân nhận thức nhanh, đúng và thực hiện tốt các chủ tr­ương, chính sách của Đảng, Chính phủ.

Ngành y tế phối hợp với chính quyền các cấp, đẩy mạnh công tác phòng bệnh, chữa bệnh cho nhân dân. Nhiều xã thành lập đ­ược ban tuyên truyền, cổ động vệ sinh phòng bệnh. Hàng trăm cán bộ y tế, nữ y tá, nữ hộ sinh đư­ợc đào tạo, bồi d­ưỡng chuyên môn đã trở về các địa ph­ương phục vụ nhân dân. Phong trào vệ sinh phòng bệnh với khẩu hiệu “ăn sạch, ở sạch” được nhân dân hư­ởng ứng và tích cực thực hiện.

Đời sống vật chất, tinh thần và sức khoẻ của nhân dân ở vùng tự do từng b­ước đ­ược nâng lên. Nhân dân hăng hái tham gia phong trào thi đua “giúp đỡ bộ đội, đỡ đầu du kích”. Nhiều thôn, xã bỏ ra một phần ruộng đất cho các đoàn thể tổ chức sản xuất để ủng hộ bộ đội và du kích. Nhân dân tự nguyện góp tiền, quần áo, thuốc men gửi tặng các đơn vị bộ đội. Nhiều gia đình trồng thêm rau, làm thêm chum tương, vại cà, vại trám và dự trữ củi, rơm để khi bộ đội đến đóng quân thì ủng hộ. Phong trào văn hoá, văn nghệ phục vụ kháng chiến và cổ động tin chiến thắng đư­ợc đẩy mạnh trong thanh niên, phụ nữ, thiếu niên nhi đồng và du kích. Mỗi khi bộ đội về làng, tình quân dân lại càng thêm gắn bó trong không khí vui t­ươi lành mạnh.

Các chỉ tiêu thuế, nghĩa vụ đóng góp cho kháng chiến được nhân dân thực hiện đầy đủ. Phong trào hũ gạo kháng chiến, may áo mùa đông binh sĩ vẫn được duy trì đều đặn. Cuối năm 1948, nhân dân các xã đã mua hàng chục vạn đồng công phiếu kháng chiến. Những nơi sát vị trí địch như Đồi Ngô, phố Lục Nam, ta cũng vận động được 9 gia đình nguỵ binh mua 400 đồng công phiếu kháng chiến. Từ giữa năm 1947 đến cuối năm 1948, tổ chức Đảng các xã được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là qua đợt phát triển đảng lớp Tháng Tám. Tính đến hết năm 1948, toàn Đảng bộ có 248 đảng viên, trong đó có 20 đảng viên nữ. Hầu hết các xã và từng đội du kích tập trung đều có chi bộ hoặc tổ Đảng. Các cơ quan chuyên môn của Đảng bộ cũng được xây dựng và chấn chỉnh. Bộ máy tổ chức Ban Tuyên huấn từ huyện đến chi bộ được thành lập. Ban Tổ chức – Kiểm tra thành lập tháng 2 năm 1948, được biên chế 1 cán bộ. Trong quá phong trào thi đua yêu nước, nhiều đồng chí nêu cao được tinh thần chịu đựng gian khổ, ác liệt, khắc phục khó khăn, luôn sâu sát quần chúng và chủ động sáng tạo trong công tác. Song cũng còn một số cán bộ, đảng viên chưa nêu cao được tinh thần đoàn kết nội bộ, biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, hẹp hòi, hủ hoá, chủ quan khinh địch, không hoàn thành nhiệm vụ được giao. Các cấp uỷ đã kịp thời tổ chức kiểm điểm sâu sắc những khuyết điểm trên và đề ra các biện pháp sửa chữa. Sau học tập, kiểm điểm tự phê bình và phê bình, cán bộ, đảng viên đã có những chuyển biến tích cực. Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ từng bước được tăng cường.

Các đoàn thể quần chúng từ huyện xuống các xã được chấn chỉnh tổ chức, trưởng thành nhanh cả về số lượng và chất lượng, thực hiện ngày càng tốt hơn nhiệm vụ kháng chiến.

 Hội Liên Việt và các đoàn thể quần chúng như Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên nhi đồng, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân lần lượt tiến hành Đại hội kiểm điểm những việc đã làm, đề ra phương hướng nhiệm vụ mới, bầu ban chấp hành và chấn chỉnh tổ chức. Huyện ủy mở nhiều lớp huấn luyện chính trị, nghiệp vụ tuyên truyền cho cán bộ các đoàn thể. Những cán bộ dự các lớp học trên đều được cử về địa phương hoạt động theo sự chỉ đạo của huyện bộ và xã bộ Việt Minh. Hoạt động của các đoàn thể cứu quốc ở các địa phương trong huyện rất sôi nổi. Nhiều hội viên cứu quốc làm nòng cốt trong các Hội bảo trợ dân quân du kích, Hội mẹ chiến sĩ, Hội khuyến học. Phong trào Ghi tên tòng quân, Luyện tập quân sự, Khoẻ để kháng chiến phát triển mạnh trong thanh niên, phụ nữ, học sinh. Trong phong trào Ghi tên tòng quân đã có hàng trăm người tình nguyện và được tuyển chọn vào bộ đội chủ lực. Chính quyền từ huyện xuống các xã được củng cố. Huyện đã mở lớp đào tạo cán bộ chính quyền, củng cố Uỷ ban kháng chiến hành chính xã và Hội đồng nhân dân các cấp. Chính quyền các cấp tiếp tục tổ chức thực hiện chính sách giảm tô, giảm tức và chia ruộng đất của các đồn điền vắng chủ, địa chủ phản động cho nông dân nghèo. Nhiều cán bộ chính quyền và các ngành chuyên môn của tỉnh được cử về các địa phương, cơ sở để tuyên truyền, giải thích cho nhân dân hiểu rõ chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Chính phủ trong kháng chiến, kiến quốc.

Dự đoán trước về cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp sẽ ngày càng mở rộng quy mô, hết sức khốc liệt, Đảng bộ, chính quyền huyện tập trung lãnh đạo, tuyên truyền chủ trương, đường lối kháng chiến của Trung ương Đảng, vận động quân và dân trong huyện tiến hành tản cư và triệt để tiêu khổ kháng chiến. Đầu năm 1949, do sự tấn công, càn quét ngày càng ác liệt của thực dân Pháp và do ta thực hiện tiêu thổ kháng chiến, nhiều đình chùa, đền,  miếu, hiệu buôn, chợ búa, trường học, cầu sắt trên địa bàn huyện bị phá sập. Quốc lộ 1A, 13B, đường sắt và nhiều tỉnh lộ khác bị phá nát. Sông Lục Nam nổi lên nhiều đập chắn, bãi cọc để cản tàu chiến ca nô của địch. Tình hình chiến sự ác liệt, địch thực hiện kế hoạch lập vành đai trắng đã làm cho tư tưởng một bộ phận nhân dân, đảng viên hoang mang, lo sợ. Một số đảng viên ngại gian khổ, sợ hy sinh, bỏ nhiệm vụ chạy ra vùng tự do.

Tháng 2-1949, quân Pháp tăng cường củng cố các vị trí chiếm đóng trên địa bàn. Các vị trí Đồi Ngô, Bến Giáo, Đồi Giáo, phố Lục Nam, Cẩm Lý, Chỉ Tác, Chợ Sa đều được bổ sung quân số, vũ khí, gia cố công sự chắc chắn. Đồng thời chúng tìm mọi cách củng cố chính quyền bù nhìn và lập tề trở lại. Các làng Già Khê, Nhật Đức thuộc xã Tiên Hưng, làng Thanh Gĩa, Đại Lâm, Trôi thuộc xã Tam Dị là nơi giặc Pháp tập trung để xây dựng tề phản động. Phần lớn nhân dân 2 xã này sống bằng nghề làm ruộng, riêng làng Nhật Đức có nghề thuyền chài. Từ ngày Pháp chiếm đóng Đồi Giáo, nhiều người đã chuyển sang nghề buôn. Giặc Pháp dùng việc cấp giấy phép  buôn bán, hàng hóa từ vùng tạm chiếm ra vùng tự do để khống chế, khai thác tin tức quân ta và sử dụng họ làm chỉ điểm cho chúng,...

Trước tình hình đó, tổ chức Đảng đã tăng cường lãnh đạo, tập trung củng cố bộ máy lãnh đạo; tăng cường giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân để giữ vững niềm tin vào đường lối kháng chiến của Đảng; động viên rộng rãi phong trào chiến tranh du kích; củng cố lực lượng vũ trang chiến đấu, sẵn sàng phối hợp với bộ đội chủ lực tác chiến mọi lúc, mọi nơi trên địa bàn tỉnh; phát động nhân dân giúp đỡ lực lượng vũ trang phá tề, trừ gian, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất lương thực, tích cực chuẩn bị mọi mặt tập trung cho sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kịp thời đối phó với những âm mưu và hoạt động mới của địch, cuối tháng 2-1949 tất cả các xã trong huyện đều tiến hành bầu lại hội đồng nhân dân và cử ra Uỷ ban kháng chiến hành chính xã. Các đội du kích cũng được bổ sung về người và vũ khí, tăng cường các hoạt động quấy rối phá hoại. Tháng 3-1949, một số tổ nữ du kích đã lặn  xuống sông Lục Nam sát vị trí Đồi Ngô cắt được 4.790 mét dây điện thoại của địch. Cuối tháng 3-1949, ba đội viên du kích đã bí mật lội qua sông đặt mìn ở cầu Dừa trên đường từ Chỉ Tác xuống Cẩm Lý để tiêu diệt địch.

Lực lượng vũ trang địa phương được xây dựng và củng cố thêm một bước. Đội du kích tập trung huyện gồm 125 người được trang bị 67 súng trường, 2 súng Sten, 170 lựu đạn, 90 quả mìn. Lực lượng du kích các xã cũng lên tới gần 250 người với hơn 50 súng trường, nhiều mìn và lựu đạn. Trình độ kỹ, chiến thuật của du kích tập trung huyện và các đội viên du kích xã cũng có nhiều tiến bộ.

Ngày 10-5-1949, được bọn Việt gian chỉ điểm, địch điều động một lực lượng lớn lính Âu Phi, nguỵ binh và thổ phỉ càn quét vào Trại 16 (Tiên Hưng), nhằm tiêu diệt lực lượng du kích và cán bộ địa phương. Trước sự cảnh giác, chiến đấu mưu trí, dũng cảm của du kích, quân địch không bắt được ai, chúng tức tối đốt 30 nóc nhà, bắt hàng chục trâu bò, hàng trăm gà vịt của dân. Trong các tháng 5, 6 -1949, du kích các xã liên tục tiến hành các hoạt động quấy rối, cắt dây điện của địch, đánh mìn đường giao thông. Cuối tháng 10- 1949, đại hội địa phương quân huyện Lục Ngạn 231 chính thức được thành lập (tiền thân từ đội du kích tập trung huyện), đại đội còn có phiên hiệu hoạt động là C.525. Đại đội địa phương quân huyện đã có nhiều cố gắng vươn lên về mọi mặt, kịp thời đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của tình hình mới.

Để mở rộng quy mô hoạt động, cuối tháng 6-1949, thực dân Pháp tiến hành kế hoạch Rơ-ve, với mục đích: Mở rộng phạm vi chiếm đóng đồng bằng và trung du Bắc Bộ; Điều thêm quân cho chiến trường Bắc Bộ, coi đây là chiến trường chính; Tăng cường xây dựng quân nguỵ làm nhiệm vụ chiếm đóng, tập trung lính Âu phi làm lực lượng cơ động càn quét lớn.

 Ngày 13-7-1949 thực dân Pháp mở chiến dịch Bát-sti-ơ đánh chiếm Bắc Ninh, Bắc Giang. Cuối 7-1949, ngoài những vị trí chiếm đóng từ trước, địch chiếm thêm Việt Yên, Phủ Lạng Thương và phía Nam Lạng Giang. Các vị trí Đồi Ngô, phố Lục Nam, Bến Giáo, Chùa Giáo và một vài vị trí khác, trước đây thuộc phân khu biên giới, cuối năm 1949 đưa sang tiểu khu Đồi Ngô thuộc phân khu Phủ Lạng Thương (Sour Secteur Phu Lang Thuong) nằm trong khu Bắc-Bắc độc lập (1). Trong phạm vi trung du Bắc Bộ địch tổ chức khu Bắc-Bắc độc lập và một phân khu Vĩnh Phúc.

Đường 13 nối Phủ Lạng Thương với Lục Ngạn được sửa sang, củng cố và bảo vệ bằng một loạt vị trí: Dĩnh Kế, Thái Đào, Quất Lâm, Cầu Lồ… Các vị trí chiếm đóng của địch đều được tăng cường quân số và vũ khí. Cuối năm 1949, địch ráo riết củng cố bộ máy nguỵ quyền và lập tề trở lại hòng kiểm soát, cách ly nhân dân hòng tiêu diệt lực lượng kháng chiến. Chúng đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền lừa bịp, đề cao chính quyền bù nhìn Bảo Đại. Ở Đồi Ngô địch gọi loa hứa hẹn “bảo vệ hoà bình cho nhân dân Việt Nam”. Tại các làng công giáo Già Khê, Nhật Đức (Tiên Hưng), Thanh Giã, Đại Lẫm (Bâm), Phú Yên, (Tam Dị), địch tuyên truyền “đi theo Việt Minh là mất đạo”,... tập hợp giáo dân đi theo chúng càn quét, cướp phá các làng xóm để gây mâu thuẫn lương-giáo. Chúng cung cấp vũ khí cho một số phần tử xấu và lôi kéo dụ dỗ thanh niên để thành lập bảo an binh. Cuối năm 1949 kế hoạch Rơ-ve của địch bước đầu đã được triển khai.

Ngày 24-11-1949, Tỉnh uỷ ra Nghị quyết nêu rõ: “Tập  trung lãnh đạo phát triển du kích chiến tranh đến cao độ. Phối hợp với bộ đội chủ lực bảo vệ địa phương. Đánh mạnh vào tinh thần binh lính địch, mở rộng công tác nguỵ vận – chú trọng nguỵ binh. Biến hậu phương địch thành hậu phương của ta. Tích cực chống càn quét bảo vệ mùa màng”.1

Quán triệt Nghị quyết của Tỉnh ủy, các cấp ủy địa phương chỉ đạo kiên quyết phá tổ chức hội tề của địch ngay từ khi mới có mầm mống. Chấn chỉnh, bổ sung đội ngũ cán bộ địch vận, tích cực gây cơ sở kháng chiến trong vùng tạm chiếm. Tuyên truyền giải thích cho nhân dân hiểu rõ âm mưu của địch, kết hợp phổ biến chính sách tự do tín ngưỡng của Đảng và Chính phủ, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dân tổ chức các ngày lễ, đồng thời quan tâm cải thiện đời sống dân nghèo. Đối với linh mục, chánh chương, trùm trưởng, ta vận động, thuyết phục họ ủng hộ kháng chiến. Huyện đội phối hợp với Công an thành lập các tổ vũ trang tuyên truyền lưu động ở các xã ven đường 1A, xung quanh vị trí địch để nắm tình hình và yêu cầu những gia đình đang ở sát vị trí địch tản cư ra vùng tự do, đồng thời kiên quyết trừng trị những kẻ có âm mưu đứng ra lập tề phản động.

4. Củng cố hậu phương, đẩy mạnh chiến tranh nhân dân (1950 đến 7- 1953)

Đầu năm 1950, địch tăng cường bố phòng các vị trí đóng quân, đào thêm đường hầm, xây thêm lô cốt. Mỗi vị trí đều có từ 100 quân trở lên. Các làng tề xung quanh đều được củng cố. Ở Già Khê, Thanh Giã địch đã lập và trang bị súng cho bọn bảo an binh, ráo riết tuyển mộ nguỵ binh, chủ yếu là thanh niên dân tộc thiểu số và thổ phỉ để tăng lực lượng quân chiếm đóng, nối liền các vị trí từ Phủ Lạng Thương đi Đồi Ngô.

Tháng 1-1950, khi bọn tàn quân Tưởng di chuyển từ mặt trận Đông Bắc về Lục Ngạn (hơn 5.000 lính và dân binh) quân Pháp đã cho bọn này đi càn quét các xã xung quanh khu vực kiểm soát của chúng.

Ngày 9-1-1950, Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt thống nhất thành Mặt trận Liên Việt. Cuối tháng 1-1950, Mặt trận Liên Việt Lục Ngạn đã tổ chức ngày Hoa-Việt hữu nghị nhằm tăng cường sự hiểu biết và đoàn kết giữa Hoa kiều và đồng bào ta, tránh để cho địch lợi dụng. Nhờ đó, Hoa kiều trong vùng địch kiểm soát cũng như vùng tự do thêm tin tưởng vào cuộc kháng chiến của ta, hăng hái tham gia kháng chiến, ủng hộ quần áo, súng đạn cho bộ đội, bán thóc quân lương cho Chính phủ.

Tháng 1-1950, hầu hết các ban tề vẫn giữ liên lạc và chịu sự chỉ đạo của Uỷ ban kháng chiến hành chính và chi bộ các xã[7].

Để đối phó với những hoạt động của địch, ngày 30-12-1949, và ngày 12-1-1950 Tỉnh uỷ Bắc Giang đã triệu tập hội nghị tổng phá tề, diệt bảo an với mục đích:

- Phối hợp với chiến trường toàn quốc, những thắng lợi trên mặt trận Đông Bắc và đường số 4, giành thế chủ động quân sự.

- Đẩy mạnh sự hoạt động về chính trị, cô lập địch, làm cho địch mất chỗ dựa trong dân.

- Củng cố chính quyền ta, đẩy mạnh chiến tranh du kích, chuẩn bị cho tổng phản công.

Sau Hội nghị, Ban lãnh đạo phá tề của huyện được thành lập gồm có 1 đại biểu Uỷ ban kháng chiến hành chính huyện, 1 đại biểu công an, 1 đại biểu thông tin do đồng chí Thường vụ Huyện uỷ làm Trưởng ban. Tỉnh uỷ  giao nhiệm vụ cho Ty Công an và 1 đơn vị của Trung đoàn Bắc-Bắc (E 36) phối hợp với đại đội địa phương quân huyện và du kích các xã tiến hành tổng phá tề, diệt bảo an dưới sự chỉ đạo chung của ban lãnh đạo phá tề huyện và tỉnh. Ban lãnh đạo phá tề huyện đã nhanh chóng phổ biến kế hoạch đến tất cả các chi bộ và quần chúng nhân dân, củng cố các chi bộ gần vị trí địch, phân loại các hạng tề, xúc tiến công tác dân vận, địch vận và mật giao với các hội tề hai mang(1), tề lừng chừng mà ta nắm được. Ban phá tề phối hợp với các ngành, các xã tổ chức sơ tán nhân dân vùng tề ra vùng tự do. Việc bao vây kinh tế địch, không họp chợ trong lúc phá tề, sơ tán tài sản thóc lúa, lợn gà và tiếp tục cấy chiêm cũng được thực hiện. Chi bộ các xã Tiên Hưng, Tam Dị, Bảo Đài, Phương Sơn, Bảo Sơn, Yên Sơn, Bắc Lũng… đều quán triệt sâu sắc  chỉ thị, nghị quyết phá tề để hiểu rõ mục đích và tầm quan trọng của nhiệm vụ phá tề. Uỷ ban kháng chiến hành chính và Mặt trận Liên Việt phân công người xuống từng thôn xóm, động viên, giải thích và chuẩn bị tinh thần tranh đấu trong nhân dân. Các đội du kích kiểm tra, bổ sung quân số, vũ khí chuẩn bị đánh địch. Ngày 25-11-1950, trước khi vào chiến dịch tổng phá tề trên toàn tỉnh, đơn vị địa phương quân huyện phối hợp với công an xung phong trừng trị, cảnh cáo bọn tay sai địch ở Đồi Ngô, tiêu diệt tại chỗ 3 tên, làm nhiều tên khác bị thương trong đó có 1 tên quan 3 Pháp bị thương nặng.

Ngày 2-2-1950, chiến dịch bắt đầu, các xã trong vùng tạm chiếm (Yên Sơn, Bắc Lũng, Bảo Đài, Bảo Sơn, Phương Sơn, Tam Dị, Tiên Hưng, Cẩm Lý, Vũ Xá, Đan Hội…) nhất loạt phá tề, giải tán toàn bộ ban tề các xã. Hầu hết các chánh phó tổng, trưởng phó lý hội đều bị bắt đưa ra vùng tự do. Riêng hai làng tề phản động Già Khê và Nhật Đức (Tiên Hưng) chưa phá được vì lực lượng địch mạnh, trang bị vũ khí hiện đại, công sự phòng ngự vững chắc. Trong chiến dịch phá tề, lực lượng du kích địa phương phối hợp với địa phương quân, công an xung phong hỗ trợ phá tề, đánh địch 10 trận, tiêu diệt 30 tên, làm nhiều tên bị thương, bắt sống 5 tên phản động, vận động 10 bảo an mang súng về với nhân dân. Đồng thời, phá tan chợ Đồi Ngô, cắt đứt sự tiếp tế giữa vùng tự do và vùng tề. Trong đợt này, 2 tiểu đội trưởng hy sinh, 2 du kích bị bắt… Sau chiến dịch tổng phá tề, địch điên cuồng khủng bố nhân dân. Tại Bắc Lũng, Yên Sơn chúng giết 15 dân thường.

Sau khi giải tán hội tề, trừng trị một số tên đầu sỏ, khát máu, bọn tay sai địch hoảng sợ. Chiến dịch tổng phá tề thắng lợi, nhân dân thêm tin tưởng vào thắng lợi của kháng chiến. Trong và sau chiến dịch, phong trào hoạt động của dân quân du kích các xã lên rất cao, nhất là du kích Yên Sơn, Bảo Sơn, Bảo Đài, Đa Hội, Cẩm Lý, Nghĩa Phương…

Từ đầu tháng 3-1950, địch thường xuyên mở những trận càn quét quy mô nhỏ vào các làng xóm để phá hoại mùa màng, đánh phá, ngăn cản những đợt vận chuyển thóc, gạo quân lương của ta từ Khu 3 lên Việt Bắc (qua Cầu Lồ, Đại Giáp, Sàn, Dốc Cọc,…). Ngày 10-3-1950, địch cho 3 tiểu đoàn từ Đồi Ngô, Chũ và Đông Triều càn vào xã Trường Sơn. Du kích nghi binh, phục kích trong rừng bắn chết 1 tên quan 2 Pháp, bắn bị thương một số tên khác, địch phải rút quân. Đầu tháng 4-1950 địch cho quân đóng bốt tại thôn Quỷnh và thôn Dùm xã Nghĩa Phương. Ngày 6- 4-1950, du kích phối hợp với một bộ phận của Tiểu đoàn 23 đánh vào bốt Quỷnh thu 1 trung liên, 1 súng trường và một số đạn dược, buộc địch phải rút khỏi 2 thôn Dùm, Quỷnh sang đóng tại Rong Khế, Tai Voi (Nghĩa Phương). Ngày 7- 4-1950, quân Pháp từ Cẩm lý, Chợ Sa, Đồi Ngô càn vào làng Đông Thịnh (Yên Sơn) bắn chết 2 dân thường và bắt 80 người khác, trong đó có toàn bộ Ủy ban kháng chiến hành chính xã Tiên Hưng. Trong trận càn này, 2 bộ đội và 1 du kích hy sinh .

Bước sang hè 1950, địch tăng cường hoạt động trên đường 13, sửa lại các cầu Quất Lâm, Mẫu Sơn và cầu Sàn, xây dựng một loạt tháp canh, liên tục mở những cuộc càn quét ra xa vị trí chiếm đóng và đường 13 từ 7 đến 12 km. Đồng thời, bổ sung quân số và vũ khí cho các đồn bốt dọc tuyến đường 13 nhằm nối liền và củng cố đường 13 từ Phủ Lạng Thương đi Đồi Ngô - Chũ – An Châu, mở rộng phạm vi kiểm soát, tăng cường sự hỗ trợ giữa phân khu Phủ Lạng Thương với tiểu khu Đồi Ngô và phân khu biên giới. Ngăn cản đường vận chuyển xung yếu trên tuyến giao thông quan trọng từ Việt Bắc qua Bắc Giang xuống Quảng Yên, Hòn Gai, Hải Dương, Hải Phòng và các tỉnh đồng bằng ven biển.

Suốt từ 1950, hàng ngày quân địch tuần tiễu, canh gác từ sáng đến tối trên đường 13. Ban đêm phục kích bắt dân công, cán bộ. Ráo riết khủng bố nhân dân các xã tạm chiếm và ven đai, tăng cường vũ trang cho một số làng tề phản động, lập lại hội tề ở những nơi bị phá đầu năm 1950.

Trước những hoạt động của địch, cấp trên đã điều động tiểu đoàn chủ lực của tỉnh về phối hợp với địa phương quân huyện và du kích chống địch càn quét, bảo vệ đường vận chuyển và nhân dân, luồn sâu vào hậu địch, tấn công các đồn bảo an và các đội ứng chiến lưu động. Các đội vũ trang tuyên truyền, công an gây được nhiều cơ sở bí mật trong vùng địch.

Cuối tháng 5-1950, đại đội địa phương quân huyện phối hợp với du kích Lan Mẫu đánh địch đi càn, bảo vệ nhân dân thu hoạch mùa màng. Các tháng 6, 7-1950 quân ta uy hiếp tề Lan Mẫu, đốt bốt Đại Giáp và vị trí Non Dưa, nơi địch thường tập trung quân tuần tra canh gác và phục kích trên đường 13. Để bảo vệ tuyến đường vận chuyển, ta tổ chức 3 trạm gác và 3 viễn tiêu, ngày đêm theo dõi địch từ xa, kịp thời thông báo cho cán bộ, dân công có kế hoạch đối phó. Đồng thời, bố trí từ 1 đến 2 tiểu đội du kích lưu động ban đêm trên đoạn đường này để phòng thám báo, thổ phỉ và biệt kích, bảo vệ cán bộ, dân công vận chuyển được an toàn.

Để tăng cường sức mạnh chiến đấu cho lực lượng vũ trang địa phương, tháng 8-1950, Tiểu đoàn 61 chủ lực tỉnh mang phiên hiệu Tiểu đoàn 80 Đại đoàn Quân Tiên phong vào chiến trường Nam Lạng Giang – Lục Ngạn hoạt động. Đại đội địa phương quân của huyện phối hợp với đại đội địa phương quân Lạng Giang mang phiên hiệu D18 được bổ sung quân số và vũ khí. Các đơn vị du kích xã được bộ đội hướng dẫn, huấn luyện cách sử dụng các loại vũ khí cá nhân, cách đánh trong làng và phối hợp chiến đấu theo đội hình trung đội, đại đội. Nhờ vậy, các hoạt động phối hợp đánh địch giữa bộ đội và dân quân du kích được tổ chức chặt chẽ, có hiệu quả. Thực hiện Chỉ thị 101/CTCU ngày 13-8-1950 của Chính uỷ Liên khu uỷ Việt Bắc về việc thực hiện tuần lễ thi đua giết giặc lập công, Tỉnh uỷ Bắc Giang phát động Tuần lễ thi đua giết giặc lập công phối hợp với chiến trường Cao-Bắc-Lạng từ 21-9 đến 28-9-1950.

Ngày 21-9-1950, Đại đội 555 và 198 của Tiểu đoàn 61 phối hợp với du kích địa phương phục kích đánh địch trên đường từ Thanh Giã đi Yên Thiện, tiêu diệt 15 tên địch, bắn bị thương 7 tên, thu được 5 súng trường, 1 súng cối.

Ngày 24-9-1950, Trung đội 32 gài mìn ở khu vực cầu Mỗ Sơn trên đường 13. Khoảng 17 giờ, 1 đoàn xe địch hơn 30 chiếc chạy từ Đồi Ngô xuống bị trúng mìn, 1 xe bị phá huỷ, 3 lính Pháp chết tại chỗ, 3 xe khác bị đổ, một số tên bị thương.

Trong Tuần lễ thi đua giết giặc lập công, du kích và bộ đội địa phương đã phá tề phản động ở các xã Bảo Đài, Bảo Sơn, Tiên Hưng, Yên Sơn, Tam Dị, Bắc Lũng. Tại Bảo Sơn ta bắt được 27 tên tề loại A và 32 tên tề lại B(1). Tại Bảo Đài, ta diệt tên chánh tổng phản động đang chỉ huy xây bốt và tháp canh Ngọc Sơn, cảnh cáo 2 tên khác, phá vỡ kế hoạch xây bốt buộc chúng phải rút ra Dốc Sàn. Du kích các xã Yên Sơn, Bắc Lũng, Bảo Sơn, Bảo Đài, Cẩm Lý, Đan Hội, Vũ Xá hoạt động mạnh. Nhiều chiến sĩ du kích đã nêu cao tinh thần dũng cảm, bất khuất, tiêu biểu là đồng chí Nguyễn Văn Hãnh, du kích xã Đan Hội(2).

Thất bại nặng nề trong chiến dịch Biên giới, ngày 20-10-1950 địch bỏ Lộc Bình, Đình Lập, An Châu, Chũ rút về Đồi Ngô và Phủ Lạng Thương. Địch điều thêm một số lính Âu-Phi tăng cường bảo vệ đường giao thông để những toán quân thất trận từ Lạng Sơn rút về được dễ dàng. Tháng 11-1950, địch rút 13 vị trí và 3 tháp canh ở Hữu Lũng và Bắc Lục Ngạn về tiểu khu Đồi Ngô, Nam Lục Ngạn, đóng thêm 3 vọng gác tiền tiêu ở khu vực này cùng với các vị trí mới: Bãi Thảo (Cẩm Lý), Tai Voi (Nghĩa Phương), núi Gốm Vun (Chu Điện). Tháng 10-1950, quân số của địch ở tiểu khu Lục Nam(3) là 2.232 tên, tháng 11-1950 tăng lên 7.482 tên. Các vị trí cũ đều được tăng cường quân số, vũ khí, xây dựng công sự phòng thủ kiên cố. Tại Đồi Ngô, địch lập một sân bay dã chiến cho máy bay tiếp viện. Cuối tháng 11-1950, địch lại rút 5 vị trí lẻ: Lã Hộ, Toàn Thành, Sàn, Muối, Núi Bông trên đường 13. Đến tháng 12-1950, quân địch đóng ở tiểu khu Lục Nam còn khoảng 3.000 tên, chủ yếu là lính Âu-Phi.

Thời gian này, bộ đội địa phương, dân quân du kích và bộ đội chủ lực hoạt động ở địa phương tổ chức nhiều trận đánh địch giành thắng lợi. Tiêu biểu là trận đánh ngày 2-10-1950 của Tiểu đoàn 61, phối hợp với du kích địa phương phục kích quân địch từ Đồi Ngô về Đại Giáp.

Trận địa được nguỵ trang công phu, các chiến sĩ lấy rạ mùa phơi bên đường để phủ lên người và vũ khí, chờ địch.. Khi quân địch lọt vào ổ phục kích, quân ta bất ngờ nổ súng, nhất loạt xông ra dùng lưỡi lê, dao găm đánh giáp lá cà với địch. Trận này ta diệt gọn 80 tên địch, bắt sống 2 tên, thu 1 súng cối, 1 trung liên, 20 súng trường, 1 rađiô và nhiều lựu đạn.

Song song với nhiệm vụ đẩy mạnh chiến tranh du kích, Đảng bộ tập trung lãnh đạo nhiệm vụ đẩy mạnh sản xuất. Trong điều kiện đánh phá ác liệt, nhân dân và du kích các xã vùng tự do  và một phần vùng tạm chiếm vẫn tích cực tăng gia sản xuất. Chính quyền địa phương các cấp thực hiện việc tạm cấp ruộng đất của Pháp và Việt gian, ruộng vắng chủ cho nông dân sử dụng.

Kết quả sản xuất nông nghiệp của huyện đạt khá trên cả mặt diện tích và sản lượng. Các chi bộ  tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về nghĩa vụ, tầm quan trọng của việc nộp thuế nông nghiệp, đối với công cuộc kháng chiến, kiến quốc, góp phần thiết thực yêu nước. Từ đó, nhân dân các xã nghiêm chỉnh thực hiện nộp thóc nghĩa vụ và bán thóc quân lương cho Chính phủ1. Xã Trường Sơn (gồm Lục Sơn, Bình Sơn, Trường Sơn ngày nay) nằm hoàn toàn trong vùng tự do là địa bàn đứng chân của  bộ đội chủ lực và nhiều cơ quan sơ tán đến trong suốt cuộc kháng chiến. Chính quyền địa phương và nhân dân đã thực hiện tốt việc thu mua và vận chuyển lương thực từ các vùng tạm chiếm, vùng du kích về cung cấp đủ cho nhu cầu của bộ đội và các cơ quan đóng trên địa bàn. Việc vận chuyển lương thực gặp nhiều khó khăn,  nguy hiểm thường phải thực hiện vào ban đêm vì địch có nhiều đồn bốt, tháp canh án ngữ ngăn cản đường vận chuyển của ta. Xã Tiên Hưng khi vận chuyển “thóc nghĩa vụ” qua đường 13 gặp địch tấn công phải bỏ mất hơn 100 tạ.

Cùng với việc tập trung lãnh đạo chủ động chống địch càn quét, chủ động tiêu diệt giặc, Huyện ủy vẫn đặc biệt quan tâm lãnh đạo các lĩnh vực văn hóa xã hội, ytế, giáo dục. Nhờ đó, các ngành văn hoá - thông tin, giáo dục, y tế, thể dục - thể thao luôn được củng cố và phát triển. Cùng với xây dựng hệ thống giáo dục phổ thông, phong trào bình dân học vụ tiếp tục được duy trì. Đến năm 1950, toàn huyện có 90% số người trong độ tuổi đi học đã biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ, nạn mù chữ cơ bản đã xoá xong. Hoạt động văn hoá- văn nghệ, thể dục- thể thao với nội dung phục vụ kháng chiến, kiến quốc ngày càng phát triển mạnh trong các đoàn thể quần chúng. Phong trào sáng tác thơ ca, hò vè và tổ chức biểu diễn kịch nói, múa hát phát triển ở nhiều địa phương. Cán bộ văn hoá - thông tin từ huyện đến các xã  tích cực về cơ sở phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ và tuyên truyền tin chiến thắng trong nhân dân, đồng thời vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn hoá mới.

Ngành y tế khắc phục khó khăn, thiếu thốn về cơ sở vật chất, kỹ thuật, n tích cực tìm mọi cách để chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân và góp phần phục vụ lực lượng vũ trang. Các trạm cứu thương, dân y ở xã được chấn chỉnh về tổ chức và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Hàng năm, cán bộ y tế về các xóm vận động nhân dân thực hiện 3 sạch (ăn sạch, uống sạch, ở sạch) và 3 diệt (diệt ruồi, diệt muỗi và diệt chấy rận), đồng thời phát động phong trào vệ sinh phòng bệnh ở cơ sở.

Hậu phương được xây dựng vững mạnh, không những chỉ tạo ra của cải vật chất, nhân lực phục vụ tiền tuyến, mà còn có điều kiện thuận lợi để giúp đỡ các cơ quan Trung ương và tỉnh bạn sơ tán đến, hoặc các lớp tập huấn chính trị, quân sự tại địa phương.

Trước những yêu cầu và nhiệm vụ mới, một vấn đề được đặt ra là phải tăng cường hơn nữa công tác xây dựng, củng cố tổ chức Đảng để đủ sức lãnh đạo cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi hoàn toàn. Ngay từ những năm 1948-1949, đứng trước sự phát triển nhanh về số lượng nhưng chất lượng chưa đảm bảo, nhiều đảng viên mới chưa nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng, trình độ chính trị và khả năng nhận thức còn thấp, Đảng  chủ trương tiến hành cuộc vận động đào tạo cán bộ học tập lý luận, phê bình và tự phê bình trong Đảng. Tháng 9-1950, Trung ương quyết định tạm ngừng việc phát triển để củng cố.

Thực hiện chủ trương trên, nhiều lớp học cho cán bộ, đảng viên được tổ chức theo từng chi bộ, các loại tài liệu quan trọng như Sửa đổi lối làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cách mạng dân chủ mới của đồng chí Trường- Chinh và nhiều tài liệu khác được phổ biến trong cán bộ, đảng viên. Phương châm của các lớp học là học tập lý luận liên hệ với thực tiễn. Cán bộ, đảng viên lấy những điều đã học để xem xét ưu khuyết điểm của mình trong việc chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, đồng thời triển khai cuộc vận động phê bình và tự phê bình, tiến hành củng cố Đảng theo chủ trương của Trung ương.

Thường xuyên chăm lo công tác xây dựng Đảng, nghiêm khắc và kịp thời khắc phục những khuyết điểm, yếu kém nên các cơ sở Đảng ngày càng được củng cố vững mạnh, đủ sức gánh vác những trọng trách to lớn do cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở địa phương đặt ra.

Bước sang năm 1951 cục diện chung trên toàn chiến trường Đông Dương có nhiều biến động, Pháp không còn nắm được quyền chủ động trên chiến trường. Với quan điểm lấy đồng bằng và trung du Bắc Bộ làm chiến trường chính, Đờ lát Đờ tát xi nhi cho triển khai kế hoạch Xa lăng với nội dung: Gấp rút tập trung quân Âu - Phi tinh nhuệ, xây dựng lực lượng cơ động chiến lược mạnh, đồng thời phát triển ngụy binh với quy mô lớn xây dựng thành đội quân quốc gia để hỗ trợ cho quân đội Pháp. Xây dựng phòng tuyến Boong ke, thiết lập vành đai trắng bao quanh trung du và đồng bằng Bắc Bộ để đối phó với chủ lực đối phương xâm nhập và ngăn chặn nhân tài vật lực từ vùng chiếm đóng đưa ra ngoài. Tiến hành chiến tranh tổng lực, bình định vùng đã chiếm, đánh phá vùng du kích, huy động sức người, sức của trong vùng chiếm đóng phục vụ cho cuộc chiến nhằm thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", chuẩn bị tổng phản công. Đánh phá hậu phương của Việt Minh về nhiều mặt: biệt kích, thổ phỉ, không quân oanh tạc, chiến tranh tâm lý, bao vây phá hoại kinh tế.

Trong vùng tạm chiếm Bắc Giang, đầu năm 1951 địch chia lại hệ thống tổ chức chỉ huy làm 3 phân khu:

  • Phân khu Phủ Lạng Thương thuộc khu Bắc Ninh
  • Phân khu Cầu Lồ thuộc khu Bắc Ninh
  • Phân khu Lục Nam thuộc khu Phả Lại

Như vậy, từ các vị trí chiếm đóng rải rác năm 1947 đến tiểu khu cuối năm 1949, sang đầu năm 1951 địch tổ chức thành 2 phân khu quân sự mạnh thuộc 2 khu quân sự. Nâng cấp tiểu khu Lục Nam (thuộc phân khu Phủ Lạng Thương) thành phân khu thuộc khu Phả Lại và lập thêm phân khu Cầu Lồ thuộc khu Bắc Ninh. Phụ trách binh lực ở phân khu Lục Nam do tiểu đoàn 3/11 R.I.C đóng ở Đồi Ngô, phụ trách binh lực phân khu Cầu Lồ do tiểu đoàn 3/7 R.T.A đóng ở Cầu Lồ. Tổng số quân 2 tiểu đoàn là gần 1.500 tên. Ngoài ra còn có hàng ngàn lính bảo an, thổ phỉ ở các vị trí và các ban tề phản động.

Được sự viện trợ đắc lực của đế quốc Mỹ, đầu năm 1951 phòng tuyến boong ke của Đơ tát xi nhi bắt đầu được xây dựng với 113 vị trí, trên 1.200 lô cốt từ Hồng Gai qua Đông Triều đến Cẩm Lý, phố Lục Nam sang Đồi Ngô, qua Cầu Lồ đến Phủ Lạng Thương, Bắc Ninh, Vĩnh Yên, Sơn Tây rồi xuống Ninh Bình. Cuối năm 1951, địch đã xây hoàn chỉnh 80 vị trí với 800 lô cốt, boong ke. Các vị trí quan trọng như Cẩm Lý, phố Lục Nam, Đồi Ngô, Cầu Lồ đều được xây dựng rất kiến cố với một lô cốt mẹ ở giữa, 5 đến 7 lô cốt con xung quanh, được nối bằng hệ thống công sự xây chìm và hệ thống hoả lực chéo cánh xẻ yểm trợ  nhau. Trong khu vực chiếm đóng quan trọng ở Đồi Ngô, Cầu Lồ có kho chứa vũ khí, lương thực, xăng dầu. Bảo vệ vòng ngoài là nhiều lớp rào dây thép gai và bãi mìn bao bọc. Mỗi vị trí như vậy đều có từ một đại đội đến hàng tiểu đoàn lính Âu Phi.

Cùng với việc củng cố vị trí chiếm đóng tại 2 phân khu Lục Nam và Cầu Lồ, địch còn tăng cường các cuộc càn quét, củng cố nguỵ quyền, lập lại các làng tề đã bị ta phá trong vùng chúng kiểm soát. Tổng số dân trong vùng tạm chiếm Lục Nam có gần 30.000 người, ngay từ đầu năm địch đã sử dụng nhiều thủ đoạn bắt lính, bổ sung quân. Tại phân khu Lục Nam địch cho lực lượng đi tuyên truyền, gọi loa, diễn thuyết ở chợ Lục Nam, bắt thanh niên khoẻ mạnh đi làm cho chúng (đào hào, xây lô cốt), dùng nhiều thủ đoạn dụ dỗ ép buộc phải đi lính. Chúng còn giao cho ban tề các xã tuyển chọn, nộp người. Từ tháng 6 đến 10- 1951, địch đã tuyển được hơn 100 nguỵ binh, chưa kể số tráng, dõng, bảo an. Tại Đồi Ngô và Cầu Lồ, địch đều có tổ chức phòng nhì tức “do thám phân khu” do các sĩ quan tình báo phụ trách. Hàng ngày chúng tung gián điệp, chỉ điểm ra vùng tạm chiếm và vùng tự do dò la cơ sở ta để dẫn quân đến vây bắt, hoặc dò tìm các vị trí đóng quân của bộ đội, du kích, cơ quan, kho tàng v.v… rồi dùng pháo hoặc máy bay bắn phá. Địch đưa gián điệp lọt vào hàng ngũ bộ đội địa phương quân huyện Lục Ngạn([8]),tung ra những luận điệu tuyên truyền phản động, gây hoang mang trong nhân dân. Trong vùng tạm chiếm, địch còn tung ra nhiều sách báo, tranh ảnh đồi truỵ phản động, tuyên truyền lối sống thực dụng kiểu Mỹ, tư tưởng chống cộng, tô vẽ cho quân đội nguỵ quyền. Chúng giao sách báo cho các ban tề phân phát cho nhân dân. Tại những nơi gần các bốt Đồi Ngô, Cầu Lồ, Cẩm Lý, Chợ Sa, … địch còn dùng biệt kích có vũ trang, mặc thường phục trà trộn với dân đi sâu vào vùng cơ sở ta bắt cán bộ, du kích. Chúng tăng cường tuần tiễu, càn quét, phục kích, dùng áp lực quân sự để củng cố nguỵ quyền, thành lập các ban tổng uỷ, kiện toàn các ban xã uỷ. Hàng tháng, tên quận trưởng đều họp với bọn tổng uỷ, xã uỷ giao nhiệm vụ, đặt chương trình kế hoạch làm việc. Sau khi đạo dụ tổng động viên của chính quyền bù nhìn ra đời, địch bắt nhân dân vùng tạm chiếm phải chụp ảnh, lấy thẻ, kê khai dân số, hộ khẩu, ruộng đất để chúng dễ dàng kiểm soát. Ngoài ra địch còn dùng các biện pháp gây chia rẽ trong nhân dân bằng cách cho các phần tử xấu người công giáo đi cướp phá, hôi của trong các cuộc càn quét hoặc cho bọn tay sai người dân tộc thiểu số đàn áp nhân dân các làng người Kinh.

Về kinh tế, địch thẳng tay bóc lột bằng thuế điền thổ, thuế đinh, thuế nuôi tráng, dõng, bảo an, phá hoại hoa màu không cho dân gặt hoặc cướp thóc lúa. Tại xã Yên Sơn, địch cướp và bắt dân gánh nộp 3.000 tạ thóc, xã Lan Mẫu cũng bị cướp gạo, chặn đường vận chuyển của ta qua đường 13. Đặc biệt, từ tháng 7-1951 địch thực hiện dồn làng, đuổi dân, lập vành đai trắng ven dãy núi Huyền Đinh, dọc đường 13 và dãy Bảo Đài. Nhân dân các xã Tam Dị, Phương Sơn, Cẩm Lý, Đan Hội, Bảo Sơn, Bảo Đài … đều bị địch dồn vào ở xung quanh các đồn bốt, nhằm mục đích tách cán bộ, đảng viên, du kích ra khỏi dân, bộ đội và chính quyền kháng chiến mất chỗ dựa và dùng nhân dân làm bia đỡ đạn cho chúng, chống sự tấn công của ta. Cán bộ, đảng viên ở các xã bị dồn dân lập đai trắng, một số theo gia đình vào nơi tập trung, một số bị bật ra ngoài. Một số đồng chí ở lại cùng gia đình, hầu hết nằm im không hoạt động, số đồng chí bật ra ngoài cũng không liên lạc được với cơ sở. Đến tháng 10- 1951, địch đã lập xong khu trắng không người, suốt một dải từ phân khu Lục Nam về Phủ Lạng Thương rộng từ 3 đến 5 km dọc đường 13 với khoảng hơn 2 vạn dân trong vùng kiểm soát của chúng. Trước sự đàn áp cơ sở, khủng bố ác liệt cùng với các biện pháp dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc, từ tháng 6 đến tháng 10- 1951 tại các xã Lan Mẫu, Yên Sơn, Tiên Hưng … có hàng chục cán bộ của ta không giữ được bản lĩnh, giảm sút ý chí chiến đấu, một bộ phận quần chúng nhân dân hoang mang vì không có người lãnh đạo.

Căn cứ vào tình hình thực tế địa phương và chủ trương của Liên khu Việt Bắc, Hội nghị Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang họp ngày 14-1-1951, ra Nghị quyết: “Tranh thủ thời gian, phát huy chiến quả, phát triển du kích chiến tranh rộng rãi và cao độ, đẩy mạnh phong trào nhân dân đấu tranh chống thực dân Pháp, góp phần tiêu diệt nhiều sinh lực địch”.[9]

Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh uỷ, đêm 12-1-1951 Trung đoàn 98 diệt gọn đồn Cẩm Lý, buộc tiểu đoàn 3-11 R.I.C phải rút về Vĩnh Yên.

Những trận đánh nhỏ lẻ của quân ta chưa đủ sức làm cho giặc co cụm lại để đối phó. Tại phía Nam Lục Ngạn, địch vẫn tăng cường mọi thủ đoạn chống lại ta bằng chính trị, quân sự, văn hoá. Trước sự khủng bố gắt gao của địch, các chi bộ Tam Dị, Phương Sơn, Bảo Đài, Bảo Sơn phải chuyển hướng hoạt động để bảo toàn lực lượng. Một số cấp uỷ và Uỷ ban kháng chiến hành chính xã Yên Sơn, Bắc Lũng, Cẩm Lý, Vũ Xá, Đan Hội, Lan Mẫu phải chuyển sang đứng chân ở địa phương bạn. Cán bộ không bám được dân, du kích không bám được đất hoạt động, nhiều cơ sở bị bỏ trống. Bộ đội địa phương Lục Ngạn và du kích các xã không có địa bàn đứng chân, hoạt động yếu.

Tại Lục Nam, nhiều cán bộ chính quyền, chi bộ, du kích một số xã đã trở về địa phương đào hầm bí mật để hoạt động. Mỗi cán bộ, đảng viên phải đạt chỉ tiêu từ 1 – 2 hầm bí mật, vận động mỗi gia đình đào một hầm. Xã Lan Mẫu trước đây cả chi bộ, uỷ ban kháng chiến hành chính phải lánh sang khu du  kích Yên Dũng đến thời điểm này đã trở về địa phương. Các xã Nam Sơn, Lan Mẫu đã đưa đảng viên vào xã uỷ, tổng uỷ lập tề kháng chiến để đưa quần chúng trung kiên vào hoạt động ở ban tề. Du kích các xã Bảo Sơn, Yên Sơn, Nghĩa Phương, Nam Sơn tích cực tổ chức đánh địch. Du kích Nghĩa Phương phục kích ở Suối Ván diệt nhiều tên Pháp ( 9 – 1951). Cũng thời gian này, Trung đoàn 98 và Tiểu đoàn 215 thuộc Trung đoàn 74 tiến xuống vùng Hòn Ngọc, Trại Chẽ (Tam Dị), đột nhập diệt ác trừ gian ở Thanh Giã, gây cơ sở ở Hà Phú, Ngõ Sơn, Am Vun ( Chu Điện) và Núi Rụt. Ngày 8 -10, Tiểu đoàn 215 cùng 2 đại đội bộ đội địa phương Lục Ngạn và Lạng Giang đánh 2 tháp canh Quất Lâm và Đại Giáp gây cho địch nhiều thiệt hại.

Đầu năm 1951, khi địch bắt đầu triển khai kế hoạch Xa Lăng, bộ đội chủ lực tập kích đồn Cẩm Lý thắng lợi. Sau trận tháng 7- 1948, địch đã xây dựng Cẩm Lý thành vị trí mạnh, có hệ thống phòng ngự kiên cố, vững chắc. Đồn địch xây dựng trên vị trí cao, có thể bao quát, khống chế một vùng sông và thung lũng rộng. Khó khăn của việc đánh đồn này là ta không có điều kiện tiếp cận vị trí địch vì địa hình quanh đồn quá trống trải, khu vực xung quanh đồn đều là làng tề, nên không có chỗ giấu quân. Trước những khó khăn đặt ra, Ban Chỉ huy Trung đoàn 38 chọn cách đánh bôn tập để tiêu diệt. Được sự giúp đỡ của du kích địa phương, trinh sát tiến hành điều tra địa hình, bố phòng hỏa lực, triển khai lực lượng. Mọi phương án, dự kiến được chuẩn bị kỹ lưỡng trên sa bàn. Đêm 12-1-1951, các đơn vị của Trung đoàn ở vị trí giấu quân bí mật áp sát mục tiêu được phân công. Đúng giờ quy định, tất cả các mũi nhất loạt nổ súng tấn công. Bị bất ngờ, địch không kịp trở tay và các vị trí xung quanh không kịp ứng cứu. Với sự dũng cảm, táo bạo, bất ngờ, bộ đội chủ lực ta đã diệt gọn bốt Cẩm Lý.

Trận đánh đồn Cẩm Lý của Trung đoàn 98 đã gây được tiếng vang lớn khắp trong và ngoài tỉnh, làm cho kẻ địch hoảng sợ. Tuy vậy, sau trận Cẩm Lý, địch vẫn ráo riết thực hiện kế hoạch Xa Lăng, xây dựng, củng cố hệ thống boong  ke phòng thủ, dồn dân lập vành đai trắng, bắt lính, lập tề, củng cố ngụy quyền. Trong suốt xuân – hè 1951, địch ở 2 phân khu Cầu Lồ và Lục Nam đã tăng cường mọi thủ đoạn chống lại ta về chính trị, quân sự, kinh tế và văn hoá. Kế hoạch Xa Lăng của địch đã gây cho ta rất nhiều khó khăn, tổn thất. Trước sự khủng bố gắt gao của giặc, nhiều chi bộ phải chuyển hướng hoạt động (Tam Dị, Phương Sơn, Bảo Đài, Bảo Sơn) để bảo toàn lực lượng. Một số cấp uỷ và chính quyền xã như Yên Sơn, Bắc Lũng, Cẩm Lý, Vũ Xã, Đan Hội, Lan Mẫu bị bật ra, đứng chân nhờ địa phương bạn. Cán bộ, đảng viên không bám được dân, du kích không bám được đất hoạt động, nhiều cơ sở bị bỏ trống. “Cán bộ thiếu kinh nghiệm công tác vùng tạm chiếm, không hiểu công tác bí mật, nặng bệnh quan liêu mệnh lệnh, xa nhân dân, cầu an sợ địch, cơ sở vũ trang quá kém cỏi, phong trào không trỗi dậy được”(1). Một số cán bộ, đảng viên đầu hàng, dẫn địch về hại đồng chí, đồng bào. Đại đội địa phương quân Lục Ngạn và du kích các xã không có địa bàn đứng chân, hoạt động yếu, ngoài một vài trận quấy rối vị trí gây thiệt hại cho địch không đáng kể. Hiệu quả đánh địch củaTiểu đoàn 61 bộ đội chủ lực tỉnh hoạt động trên địa bàn Lục Nam  không cao.

Trước tình hình đó, tháng 7-1951 Tỉnh uỷ Bắc Giang tổ chức Hội nghị cán bộ vùng tạm chiếm lần thứ nhất. Hội nghị đã kiểm điểm sâu sắc công tác chỉ đạo hậu địch, chỉ ra những khuyết điểm của cán bộ các cấp, học tập, trao đổi kinh nghiệm với tỉnh bạn (Bắc Ninh). Sau Hội nghị, công tác địch hậu trên địa bàn Lục Nam cũng như trên toàn tỉnh Bắc Giang có nhiều chuyển biến. Các xã đều tổ chức cho cán bộ, đảng viên, du kích học tập, kiểm điểm phê phán tư tưởng cầu an xa rời quần chúng, quyết tâm giữ đất, bám cơ sở hoạt động. Nhiều cán bộ, uỷ ban, chi bộ, du kích một số xã trước đây lưu vong hoặc bị bật ra ngoài nay đã trở về địa phương đào hầm bí mật để hoạt động. Mỗi cán bộ, đảng viên đào từ 1 đến 2 hầm bí mật, vận động mỗi gia đình đào một hầm bí mật. Xã Lan Mẫu trước đây cả chi bộ, uỷ ban kháng chiến hành chính phải lánh sang khu du kích Yên Dũng nay cũng đã trở về địa phương. Các xã Nam Sơn, Lan Mẫu đã đưa đảng viên vào làm xã uỷ, lý trưởng (tề kháng chiến) đưa quần chúng trung kiên vào hoạt động trong các ban tề. Các đội du kích Bảo Sơn, Yên Sơn, Nghĩa Phương, Nam Sơn đã tích cực hoạt động đánh địch. Du kích Yên Sơn phối hợp với bộ đội đánh Đồn Dừa (9-1951). Du kích Nghĩa Phương phục kích tại chùa Quỷnh bắn chết 3 tên địch (8-1951), phục kích ở Suối Văn diệt 5 tên Pháp (9-1951). Ngoài ra, du kích tổ chức các hoạt động đánh mìn, phá giao thông, cắt dây điện, quấy rối vị trí đóng chốt gây cho địch nhiều khó khăn.

Ngày 19-9-1951, Trung đoàn 98 và Tiểu đoàn 215 thuộc Trung đoàn 74 tiến xuống vành đai trắng Lục Nam, triển khai đội hình đánh tan 1 đại đội càn quét ra vùng Hòn Ngọc, Trại Chè (Tam Dị), phối hợp với du kích địa phương, bám chắc địa bàn, dựa vào nhân dân, các tổ võ trang tuyên truyền của Tiểu đoàn 215 liên tiếp đột nhập vào khu nhà thờ Thanh Giã (Tam Dị) nơi tập trung bọn tề nguỵ có nhiều nợ máu với nhân dân, làm nhiệm vụ diệt ác, trừ gian, vận động quần chúng chống địch kìm kẹp. Kết hợp đánh địch và gây dựng cơ sở các đội võ trang tuyên truyền của tiểu đoàn 215 và trung đoàn 98 đã gây được nhiều cơ sở ở các xóm Hà Tú, Ngõ Sơn, An Vun (Chu Điện) Núi Rụt v.v…

Ngày 8-10-1951, Tiểu đoàn 215 cùng 2 đại đội địa phương quân Lục Ngạn và Lạng Giang đánh 2 tháp canh Quất Lâm và Đại Giáp (lúc này thuộc xã Lan Mẫu) gây cho địch nhiều thiệt hại. Tuy nhiên, do hoả lực của địch mạnh, ta không có súng lớn để diệt hoả điểm và chưa được huấn luyện đầy đủ cách đánh công kiên, nên một số cán bộ, chiến sĩ bị thương. Sau trận này, bốt Quất Lâm bị diệt, bọn địch ở các vị trí lẻ dọc đường 13 thuộc 2 phân khu Cầu Lồ và Lục Nam hoang mang. Ở Cầu Lồ, địch phải cho nhiều lính Âu phi giải ngũ trước thời hạn. Ở phân khu Lục Ngạn, 4 lính Pháp đã bỏ vị trí ra hàng du kích.

Tháng 11-1951, phần lớn lực lượng cơ động của địch tập trung trên mặt trận Hoà Bình, nên lực lượng địch ở đồng bằng và trung du bị dàn mỏng. Tại phân khu Lục Ngạn, địch rút dần những đơn vị cơ động ở các vị trí lớn như An Vun, Núi Rụt, Dốc Cọc, Đồi Ngô để bổ sung cho chiến trường chính. Đồng thời, chúng tăng cường bắt phu để củng cố các vị trí trong phân khu, sửa chữa đường 13 và sân bay Cầu Lồ. Thủ tướng bù nhìn Trần Văn Hữu đáp máy bay lên Cầu Lồ động viên tinh thần, an ủi binh lính và nguỵ quyền ở Cầu Lồ và Lục Nam.

Tháng 12-1951, phối hợp với mặt trận Hoà Bình, du kích các xã vùng tạm chiến: Lan Mẫu, Tiên Hưng, Tam Dị, Bảo Đài, Bảo Sơn đã tích cực hoạt động đánh định. Hai xã Yên Sơn, Bắc Lũng trước đây là vùng du kích, năm 1951 địch đã mở rộng càn quét, làm đường giao thông từ Cầu Lồ xuống Chản nối với vị trí Cẩm Lý, hai xã này trở thành vùng tạm chiếm. Cuối năm 1951, chi bộ 2 xã được củng cố, cơ sở được phục hồi chấn chỉnh. Du kích xã thường xuyên bám sát địa bàn đánh địch. Yên Sơn, Bắc Lũng đã trở thành vùng du kích nối liền với khu du kích Nam Lạng Giang – Yên Dũng. Tháng 12-1951, du kích Chu Điện phối hợp với bộ đội tiêu diệt gọn bốt Ngọc Sơn do chánh Hợp chỉ huy, đồng thời phá kho thóc của thổ phỉ thu được hàng trăm tấn thóc chia một phần cho nhân dân, số còn lại nộp vào công quỹ kháng chiến. Du kích xã còn tích cực cắt dây điện, rải truyền đơn, quấy rối các đồn bốt xung quanh xã, diệt trừ những tên việt gian phản động như chánh Phong, chánh Hợp, lý Đa... khiến bọn tay sai phản động không dám ngang nhiên hoành hành.

Cuối tháng 12-1951, Tiểu đoàn 888 được lệnh vào hậu địch tại Lục Ngạn hoạt động. Đại hội 802 phối hợp với du kích Đông Hưng đánh Trại Mít tiêu diệt hơn 30 tên bảo an và tề nguỵ. Đại đội 813 cùng với du kích Lan Mẫu đột kích tiêu diệt gọn trung đội biệt kích đi phá hoại đường giao thông vận chuyển của ta, tịch thu toàn bộ vũ khí đạn dược.

Bước sang năm 1952, cùng với các hoạt động càn quét, cướp phá, địch tăng cường các hoạt động gián điệp, biệt kích để chống phá ta ở vùng tự do cũng như vùng tạm chiếm. Tháng 1-1952, Van-đe được cử phụ trách phòng nhì phân khu Lục Ngạn. Van-đe là một tên thực dân tàn ác, có nhiều nợ máu với nhân dân địa phương. Trước đây y đã từng làm đồn trưởng ở các vị trí Cẩm Lý, Đồn Dừa và một vài nơi khác trong phân khu Lục Nam. Tự tay y đã nhiều lần bắn giết, mổ bụng moi gan những đồng bào, đồng chí ta. Khi chỉ huy phòng nhì phân khu Lục Nam, Van-đe đặc biệt sử dụng bọn biệt kích và đảng phái phản động như thanh niên đoàn, Hoa kiều lý sự hội để chống phá ta.

Tại phân khu Lục Nam, địch lập tổ chức Thanh niên đoàn đặt ở nhà Bá Tâm, phố Lục Nam, có nhiệm vụ quản lý hành chính thay cho Van đe. Co 30 tên, được trang bị vũ khí đầy đủ, phụ trách việc trị an ở địa phương. Thanh niên đoàn được phép bắt giam tất cả những người tình nghi trong khu vực. Địch sử dụng lực lượng vũ trang của Thanh niên đoàn để tiến hành lùng sục, bắt bớ.  Đồng bào hồi cư phải đem cả gia đình lên trình báo ban thanh niên, bọn chúng lấy cung, khai thác tình hình ngoài vùng tự do rồi nhận xét và đề nghị lên đồn cấp giấy. Trong vùng tạm chiếm Lục Nam, Van đe ra sức củng cố Thanh niên đoàn, dùng bọn này phá cơ sở, ngăn ngừa mọi hoạt động của ta, biến tổ chức này thành mạng lưới che chắn và bảo vệ các đồn bốt.

Đồng thời với việc sử dụng các tổ chức phản động, Van đe còn tổ chức và trực tiếp chỉ huy bộ máy do thám phân khu gồm 3 phòng: phòng quan 2, phòng người Kinh và phòng người Thổ.

Phòng quan 2 có 6 bộ phận, do 6 tên phụ trách làm nhiệm vụ hành chính và nghiên cứu tổ chức các ban nguỵ quyền và các tổ chức biến tướng như Thanh niên đoàn, Hoa kiều lý sự hội ... để phục vụ hoạt động gián điệp, do thám.

Phòng người Kinh có nhiệm vụ ban hành thuế khoá, môn bài, trát - lệnh và tiếp xúc với kỳ hào, lý trưởng, xã uỷ,… Bọn nguỵ quyền  muốn gặp Van đe phải qua phòng này.

Phòng người Thổ có nhiệm vụ lôi kéo, dụ dỗ, khai thác đồng bào thiểu số làm do thám cho địch. Ngoài ra, ở Đồi Ngô địch còn có 2 đại đội Com-măng-đô, mỗi đại đội có 2 trung đội chuyên hoạt động biệt kích. Bọn chúng được chia thành từng tổ từ 3 đến 5 tên trang bị đầy đủ vũ khí, thường xuyên ra vùng du kích và vùng tự do của ta dò la, bắt bớ cán bộ, phá hoại kho tàng, chỉ điểm mục tiêu cho pháo hoặc máy bay oanh tạc.

Tháng 1-1952, xã Bảo Sơn tổ chức mít tinh, chúng đã do thám. Đại bác từ Đồi Ngô bắn phá Bảo Sơn. 5 giờ sáng ngày 2-2-1952, một đại đội biệt kích từ Đồi Ngô và Cẩm Lý xuống vây làng Chản, xã Yên Sơn, bắt 83 người đưa về Cẩm Lý và bắt 2 thanh niên đưa lên xe chở về Đồi Ngô, bắt mỗi người nộp phạt 200đ, vì đi phu chậm.

Khoảng 9 giờ ngày 11-2-1952, 90 lính nguỵ ở bốt Chỉ Tác dẫn hơn 100 phu xuống xã Yên Sơn càn quét, phá nhà lấy gỗ, bắt một số bò, lợn, gà của dân. Ngày 12-2-1952, 25 biệt kích ở Chỉ Tác càn xuống thôn Tiên Kiều (Yên Sơn) cướp đi nhiều gạo muối, gà vịt. Ngày 13-2 một trung đội biệt kích ở Chỉ Tác lại xuống Tiên Kiều bắt dân phá nhà, lấy gỗ gạch để xây đồn và bắt 9 con lợn. Sáng ngày 15-2-1952, 142 tên địch từ vị trí Cẩm Lý lên Cầu Lồ khi đến thôn Yên, một bộ phận vào làng sục sạo, bắn bị thương 4 cụ già, bật nắp 4 hầm trú ẩn, đập phá nhiều đồ đạc. Đặc biệt, ngày 23-2-1952 địch tập trung hơn 600 quân từ các vị trí Đồi Ngô Cẩm Lý, Cầu Lồ xuống vây thôn Nội Đông (Yên Sơn). Chúng vào làng tập trung dân, bắt một số thiếu niên ra tra hỏi hầm bí mật. Chúng cuốc 13 hầm, bắt được hơn chục thanh niên địa phương, bắn chết tại chỗ 7 người và bắt 5 người khác về đồn. Một tuần sau, chúng quay lại thôn Nội Đồng, hãm hiếp phụ nữ, bắt 3 con trâu cùng nhiều gà vịt, đồ đạc của dân.

Trong những ngày cuối tháng 2, đầu tháng 3-1952 địch chuyên chở hơn 400 quân, 1 đại bác 75 ly, nhiều trung liên và súng bộ binh từ khu Bắc Ninh lên tăng cường cho 2 phân khu Cầu Lồ và Lục Nam. Tại Đồi Ngô, hàng ngày địch còn cho trung đội Com-măng-đô đi tuần dọc đường 13 từ Đồi Ngô đi Mỗ Sơn và Bến Giáo. Ngoài ra, bọn do thám và biệt kích hàng ngày cũng luồn sâu vào vùng du kích của ta hoạt động. Ngày 3-3-1952, hai xã Bảo Sơn, Bảo Đài phối hợp tổ chức mít tinh, khi sắp khai mạc bị đại bác địch từ Đồi Ngô bắn xuống. Trong các ngày 5 và 29-3, hai xã lại tổ chức mít tinh ở 2 địa điểm bị thám báo chỉ điểm cho đại bác địch từ Đồi Ngô (cách xa hơn 10km) bắn phá cuộc mít tinh.

Trước những hoạt động ngày càng ráo riết của địch trên địa bàn Lục Nam, bộ đội địa phương và du kích đã tổ chức nhiều trận địa đánh tiêu hao nhiều sinh lực địch. Ngày 5-2-1952, bộ đội địa phương quân Lục Ngạn phối hợp với du kích đánh chặn địch từ Đồi Ngô đi Từ Xuyên, phá huỷ 1 xe tăng, 1 súng cối 37 ly, 1 xe ca-mi-ôn, diệt 9 tên Pháp. Trong trận này lực lượng của ta cũng bị tổn thất không nhỏ,  hy sinh 2, bị thương 5 chiến sĩ.

Cuối tháng 2-1952, 1 trung đội biệt kích từ Cầu Lồ xuống Lan Mẫu dò xét tình hình, ngăn cản đường vận chuyển của ta qua đường 13, bị bộ đội và du kích địa phương phục kích bắn chết 2 tên, làm bị thương một số tên khác, địch phải tháo chạy.

Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy, sự hỗ trợ của bộ đội chủ lực, phong trào du kích các xã vùng tạm chiếm và vùng du kích có nhiều chuyển biến. Tại xã Bảo Đài, ta vũ trang tuyên truyền vào 2 thôn, nói chuyện với trên 100 đồng bào, đưa được 3 gia đình và hàng chục trâu bò và bảo vệ được nhân dân về nhà mang lương thực, đồ dùng sinh hoạt và nông cụ ra vùng tự do. Du kích xã Bảo Sơn, Chu Điện bắt liên lạc và gây dựng lại cơ sở ở một số thôn có phong trào yếu. Du kích Bảo Sơn vũ trang tuyên truyền vào Yên Thiện, đưa 13 gia đình bị Pháp bắt ra vùng tự do. Báo cáo tình hình cơ sở tỉnh Bắc Giang 2-1952 của Tỉnh uỷ Bắc Giang đánh giá: “Xã có phong trào khá, cơ sở vững nhất là Bảo Sơn, các xã Tam Dị, Bảo Đài, Bắc Lũng trung bình, các xã Yên Sơn, Lan Mẫu đang phục hồi”. Sau trận phục kích của ta trên đường 13, tinh thần binh lính địch ngày càng giảm sút. Số nguỵ binh đòi giải ngũ ngày một tăng. Cuối tháng 1-1952, địch phải cho giải ngũ hơn 1 trung đội.

Đầu tháng 3-1952, Huyện uỷ Lục Ngạn tổ chức Đại hội dân quân du kích toàn huyện để phát động phong trào toàn dân tham gia “du kích chiến tranh”, thi đua giết giặc bảo vệ làng. Kinh nghiệm hoạt động, những ưu khuyết điểm của các xã nhất là các vùng tạm chiếm thuộc 2 phân khu Lục Nam và Cầu Lồ được hội nghị phân tích, học tập và rút kinh nghiệm.

Sáng 31-3-1952, một tiểu đội Com măng đô ở vị trí Cầu Lồ xuống càn quét trại 11 (Yên Sơn). Du kích địa phương phục kích đánh địch, bắt sống 2 tên, bọn còn lại tháo chạy về Cầu Lồ. Chiều ngày 14- 4-1952, một tiểu đội địch từ phố Lục Nam ra lùng sục, bị bộ đội địa phương phục kích bắn chết 1 tên.

Suốt mùa hè 1952, địch tăng cường chuyên chở quân lính, vũ khí đạn dược, nhiên liệu tăng cường cho các vị trí chiếm đóng thuộc 2 phân khu Lục Nam và Cầu Lồ. Riêng ngày 16-7-1952 có 40 xe quân sự chở binh lính; 4 xe đạn, 4 khẩu đại bác từ Bắc Ninh lên tiếp viện cho phân khu Lục Nam và Cầu Lồ. Chúng đặc biệt quan tâm việc bảo vệ giao thông trên đường 13 và đẩy mạnh các hoạt động biệt kích.

 Ngày 3-6-1952, biệt kích ở Đồi Ngô lên Biên Sơn (Lục Ngạn) đón gia đình tên tướng phỉ Váy Thình về Đồi Ngô, chúng bắt được 2 du kích Phương Sơn đưa về Cầu Từ (1). Ngày 11-7-1952, biệt kích ở vị trí An Vun về thôn Bảo Lộc (Bảo Sơn) đột nhập nhà một cơ sở của công an xã, không bắt được cán bộ chúng giết 2 anh em. Ngày 26-7-1952, biệt kích ở phân khu Cầu Lồ ra hoạt động ở Yên Thiện (Bảo Sơn), bị lực lượng du kích và công an xã truy lùng chúng rút chạy. 10 giờ sáng ngày 29-9, 2 máy bay Pháp bay đến địa phận Bảo Sơn, thả 4 quả bom xuống khu vực chợ và bắn xối xả, làm 3 người chết và một số người bị thương. Ngày 28-10-1952, 5 tên biệt kích ở Đồi Ngô ra hoạt động, bị địa phương quân và du kích bao vây bắt sống 2 tên, bắn chết 1 tên, thu 1 súng, 6 mìn và 50 lựu đạn.

Tháng 10-1952, thực hiện chỉ thị chống địch phá lúa bảo vệ mùa màng cho nhân dân, du kích Vô Tranh phục kích chống càn tại làng Viện và núi Vẩy Rồng bảo vệ nhân dân thu hoạch vụ lúa mùa an toàn. Hai lần địch kéo quân đến càn, đều bị du kích đánh tập hậu, bắn tỉa, làm 3 tên bị thương nặng. Du kích Nghĩa Phương phục kích tại Dốc Linh,  tiêu diệt 5 tên địch đi tuần, đồng thời tấn công bất ngờ bọn đi tiếp lương diệt 5 tên, thu 1 trung liên, 3 súng trường. Du kích Vũ Xá bắt sống tổng Hạnh, một tên Việt gian khát máu nguy hiểm tại Hồ Lầy. Tháng 11-1952, du kích Chu Điện tấn công bọn ác ôn phản động có nhiều nợ máu với nhân dân địa phương diệt Chánh Phong, ký Đá, ký Thầy, bắt sống một lính dõng, thu lại cho dân 3 con trâu bị địch cướp  khi đi càn. Trong năm, du kích Bảo Đài cũng tổ chức 3 lần đưa dân vào Ngọc Sơn, lấy được hàng chục tấn thóc của địch.

 Ngày 1-12-1952, 4 đại đội Com-măng-đô từ Đồi Ngô, Cẩm Lý cùng 3 canô, 2 xe tăng càn vào thôn Cổ Mân (Yên Sơn). Trước khi càn, pháo địch từ các vị trí chợ Sa, Cẩm Lý, Đồi Ngô, Cầu Lồ… bắn trước dọn đường. Du kích Yên Sơn gồm 17 đồng chí, dưới sự chỉ huy trực tiếp của ban xã đội, dựa vào công sự kiên quyết bám trụ đánh địch. Trận đánh kéo dài từ 6 giờ sáng đến 17 giờ chiều. Sau nhiều đợt tấn công không chiếm được làng, đến tối chúng buộc phải rút quân. Trận này ta tiêu diện 29 tên địch, làm nhiều tên khác bị thương, ta hy sinh 2 chiến sĩ.

Tháng 12-1952, du kích Lan Mẫu phối hợp với bộ đội địa phương tấn công Trại bốn thuộc phân khu Cầu Lồ. Đây là vị trí địch xây dựng khá kiên cố, với 4 lô cốt được nối liền bằng hệ thống giao thông hào. Trong lô cốt có hệ thống hoả lực chéo cánh xẻ yểm trợ lẫn nhau. Bên ngoài có nhiều lớp rào kẽm gai và bãi mìn bảo vệ. Lực lượng của ta có một đại đội địa phương quân và trung đội du kích Lan Mẫu chia làm 3 bộ phận. Bộ phận thứ nhất phục kích sẵn sàng đánh địch ở Cầu Lồ xuống tiếp viện. Bộ phận thứ 2 đánh thẳng vào khu trung tâm trại lính. Bộ phận thứ 3, chia làm 4 mũi tấn công 4 lô cốt. Sau 30 phút chiến đấu, quân ta đã chiếm lĩnh trận địa, mặc dù địch có pháo ở Đồi Ngô và Cầu Lồ bắn yểm trợ. Trận này ta tiêu diệt tại chỗ 10 tên địch, bắn một số tên khác bị thương, những tên còn lại tháo chạy về Cầu Lồ thoát thân. Trong trận này, lực lượng ta hy sinh hai chiến sĩ.

Sau trận tấn công Trại Bốn thắng lợi, bọn giặc ở các vị trí xung quanh và tề nguỵ phản động không dám hoành hành càn quét, quấy nhiễu nhân dân nữa. Những hoạt động tích cực của bộ đội và dân quân du kích xã đã làm tan rã một bộ phận tề, nguỵ, bảo an ở địa phương, nhân dân thêm tin tưởng vào thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến. Nhân dân các xã vùng tự do cũng tích cực thi đua sản xuất, hoàn thành tốt các chỉ tiêu nghĩa vụ, đóng góp sức người, sức của cho cuộc kháng chiến.

Có thể nói, trong các năm 1951- 1952, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cuộc chiến tranh ngày càng khốc liệt, các tổ chức Đảng đã mở nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị và công tác xây dựng đảng cho hàng trăm cán bộ, đảng viên. Số lượng và chất lượng của tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên ngày càng phát triển. Cơ sở đảng ở vùng du kích, căn cứ du kích về cơ bản được củng cố vững chắc. Nhiều cán bộ, đảng viên hăng hái, gan dạ trong chiến đấu và công tác được cấp trên khen thưởng. Những đồng chí hoạt động trong vùng hậu địch đã thể hiện được bản chất của người đảng viên cách mạng, dũng cảm chiến đấu chống địch khủng bố, lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống địch bắt phu, bắt lính và tích cực vận động nguỵ binh trở về với quê hương. Công tác kiểm tra kỷ luật đảng được thực hiện nghiêm túc, công tác xây dựng Đảng của toàn Đảng bộ được nâng lên một bước. Chính quyền các cấp, các ngành và đoàn thể quần chúng đều được củng cố, ra sức hoạt động phục vụ kháng chiến, kiến quốc. Lực lượng vũ trang của các xã ngày càng vững mạnh, quyết tâm chiến đấu bảo vệ quê hương và tích cực phục vụ các chiến dịch lớn.

Bước sang năm 1953, địch cắt phân khu Lục Nam từ khu Phả Lại trở về khu Bắc Ninh. Như vậy, trên địa bàn chiếm đóng Bắc Giang, địch có 3 phân khu quân sự: Phủ Lạng Thương, Cầu Lồ và Lục Nam đều thuộc khu Bắc Ninh (1), trong đó, riêng địa bàn Lục Nam có tới 2 phân khu. Sau thất bại “chiến dịch Tây Bắc”, phạm vi chiếm đóng của thực dân Pháp bị thu hẹp. Vì vậy chúng ra sức càn quét trung du nhằm “bình định hậu phương”, cố gắng giành lại thế chủ động trên chiến trường chính. Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và vùng tạm chiếm thuộc 2 phân khu Lục Nam và Cầu Lồ, địch tăng cường càn quét, phá cơ sở kháng chiến và phong trào du kích chiến tranh, ra sức vơ vét, bóc lột lương thực, của cải nhân dân, đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền chính trị lừa bịp, mị dân; thực hiện âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”.

Đầu năm 1953, bộ đội và du kích hoạt động mạnh trên các tuyến đường giao thông, uy hiếp quấy rối các vị trí địch ở Đồi Ngô, Cầu Lồ, Phủ Lạng Thương, tiêu diệt Trại Bốn. Địch cố gắng tập trung lực lượng  càn quét mạnh vào khu căn cứ du kích Yên Dũng. Từ tháng 3-1953, địch đẩy mạnh các hoạt động:

- Tăng cường canh gác, tuần tra, phục kích, càn quét nhỏ nhằm bịt tuyến đường giao thông vận chuyển của ta. Trên tuyến đường 13, tháng 5-1953 địch đóng thêm bốt Quất Lâm và 2 tháp canh trên đoạn Đại Giáp đến Dốc Sàn, gây cho ta nhiều khó khăn trong việc vận chuyển lương thực, vũ khí đạn dược, nhu yếu phẩm trên tuyến đường từ Việt Bắc xuống đồng bằng Bắc Bộ.

- Để bảo vệ tuyến đường 13, chống những cuộc tập kích bất ngờ, địch rất thận trọng trong việc tuần tiễu, dò mìn, thay đổi quy luật hoạt động, tăng quân số và sử dụng cơ giới yểm trợ.

- Trong các xã vùng tạm chiếm, địch ra sức củng cố, phản động hoá nguỵ quyền, bắt thanh niên đi lính bằng nhiều thủ đoạn, đồng thời mở rộng tổ chức, phạm vi hoạt động của các đảng phái phản động như “Thanh niên đoàn”.

- Càn quét, lùng sục trong vùng tạm chiếm, tăng cường càn quét ra các xã ven đai, tung gián điệp, biệt kích dò la các hoạt động của ta; dùng máy bay thả sâu bọ, côn trùng phá hoại lúa và hoa mầu ở Lan Mẫu, Yên Sơn...

Trong vùng tạm chiếm, địch ra sức vơ vét lương thực, của cải của nhân dân bằng các thứ thuế: “điền thổ”, “đảm phụ quốc phòng”, “thuế khai sinh”, “thuế buôn vùng tự do”, “phiếu kháng chiến” v.v… Trung bình một năm, mỗi người dân phải đóng cho địch 300 đồng. Ở xã Tiên Hưng, mỗi khi du kích hoạt động quấy rối vị trí, cắt dây điện… chúng đến phạt vạ nhân dân từ 7.000 đồng đến 10.000 đồng. Ở Bắc Lũng, địch bắt các gia đình có người nhà là cán bộ, du kích, bộ đội mỗi tháng phải nộp phạt 200 đồng trở lên. Ở các xã Yên Sơn, Lan Mẫu địch bắt dân phải bán rẻ bò, lợn, gà vịt, thóc gạo cho chúng hoặc phạt kiểm mục, gia đình nào thiếu khẩu phải phạt, thừa khẩu nào bắt lên đồn. Khi nào có tiền, gạo, thóc lúa mang lên chuộc chúng mới thả.

Để củng cố bộ máy ngụy quyền, địch thay đổi “Xã uỷ” bằng “Hội đồng hương chính”, đưa bọn phản động vào ban tề và bắt dân đi bầu. Hầu hết các xã vùng tạm chiếm địch lập lại tề. Tháng 10- 1953, sau khi bầu xong hội đồng hàng tỉnh, nguỵ quyền các xã và Thanh niên đoàn thống kê nhân lực từng làng để kiểm soát và bắt phu, bắt lính. Trong vùng tạm chiếm (trừ các làng tề phản động như Thanh Giã, Gia Khê) ta vẫn bắt liên lạc được với các ban tề và chỉ đạo hoạt động. Tuy nhiên, ở một vài nơi thuộc Lan Mẫu, Yên Sơn, các ban tề làm việc hai mang, vừa nhận nhiệm vụ của ta, vừa hợp tác với địch.

Để phá vỡ những âm mưu và hoạt động của địch, chủ trương của Huyện ủy, chính quyền huyện trong thời gian này là:

- Đảm bảo khai thông đường vận chuyển của ta qua đường 13, tích cực tấn công địch trên đường giao thông.

- Tập kích vào những cơ sở của địch nhằm tiêu hao sinh lực của chúng; tăng cường củng cố chính quyền, các tổ chức đoàn thể, lực lượng công an, du kích các xã, bảo vệ nhân dân đẩy mạnh sản xuất.

- Đẩy mạnh nhiệm vụ chống càn, tiễu trừ do thám, biệt kích chỉ điểm, đột nhập phá hoại hậu phương ta.

Âm mưu thường xuyên của địch trong suốt những năm tạm chiếm là bảo vệ đường giao thông số 13 nối liền các phân khu quân Sự Phủ Lạng Thương – Cầu Lồ- Lục Nam và bịt đường giao thông vận chuyển của ta qua đây. Ngược lại, việc đánh giao thông địch trên đường 13 vào bảo vệ, khai thông đường vận chuyển vũ khí, quân lương qua đường 13 cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách của ta trong suốt 8 năm kháng chiến. Từ cuối năm 1952 trở về trước, lực lượng tuần phục, bịt đường của địch chỉ có từ 1 đến 2 tiểu đội ta. Đầu năm 1953, việc bịt đường trở thành âm mưu quan trọng trong kế hoạch bình định vùng tạm chiếm của địch. Bước vào hè 1953, địch đã tăng cường lực lượng tuần tra, phục kích lên đến 2 trung đội. Dọc đường 13, địch cũng sử dụng một lực lượng bảo vệ kiểm soát khoảng vài trung đội đến 1 đại đội, phối hợp với các bốt, tháp canh, lô cốt hình thành thế án ngữ ta, đồng thời, chúng gài mìn khắp các ngả đường để ngăn cản ta đi qua. Quân Pháp từ các đồn bốt lân cận thường xuyên bắn phá những đoạn đường quan trọng của ta.

Để hoàn thành nhiệm vụ khai thông đường, bộ đội ta đã tập trung  2 đến 3 đại đội, bảo vệ đường giao thông trong nhiều ngày. Ta tổ chức nhiều trận đánh quân mai phục của địch trong phân khu Cầu Lồ. Đồng thời du kích các xã Bảo Sơn, Lan Mẫu, Yên Sơn, Chu Điện… cũng tổ chức các trạm viễn tiêu, canh phòng và các tiểu đội phục kích đánh quân tuần phục của địch. Thời gian đầu, do cách đối phó có tính chất quân sự đơn thuần, chủ yếu dùng lực lượng của D.16 bộ đội chủ lực tỉnh, nên địch nắm được quy luật hoạt động của ta. Khi ta bố trí lực lượng mạnh địch không ra, ta vừa rút khỏi, địch mới chiếm lĩnh trận địa. Vì vậy, bộ đội vất vả, thương vong nhiều mà hiệu quả hoạt động không cao. Sau đó, rút được kinh nghiệm, đã tổ chức những đơn vị nhỏ phối hợp với lực lượng du kích các xã trên địa bàn, hoạt động theo lối du kích, vừa bảo vệ đường, vừa tác chiến tiêu diệt địch. Đồng thời, phối hợp với du kích các địa phương, theo dõi quy luật hoạt động của địch để chủ động đối phó. Các đơn vị nhỏ thay nhau hoạt động, đạt hiệu quả cao, hạn chế được khả năng tuần phục của địch, tạo điều kiện khai thông, bảo vệ tuyến đường, bớt tổn thất, thương vong. Tính riêng năm 1953 ta đã bảo vệ hơn 20.000 dân công, 5.000 bộ đội, cán bộ, 250 tấn vũ khí, lương thực vận chuyển qua tuyến đường 13 an toàn.

Cùng với các hoạt động bảo vệ, khai thông đường, du kích các xã vẫn tiến hành các hoạt động đánh mìn, phá giao thông, cắt dây điện, quấy rối các vị trí đồn bốt địch. Tiêu biểu nhất là trận du kích Cổ Mân (xã Yên Sơn) phối hợp với đại đội 235 tiểu đoàn 28 (1) phá kho xăng Đồi Ngô, ngày 17-7- 1953.

Đồi Ngô là sở chỉ huy của Pháp ở phân khu Lục Nam. Vị trí này nằm giữa đường 13 và sông Lục Nam. Cách Đồi Ngô về phía Đông khoảng 500-600m là vị trí Bến Giáo. Xung quanh Đồi Ngô, trong phạm vi 2km là các làng tề: Thanh Giã, Già Khê và các làng Thân, Gai. Bao quanh Đồi Ngô là đồng trũng, thường ngập nước về mùa mưa. Trong vị trí Đồi Ngô có các kho xăng, lương thực, vũ khí, quân trang v.v… Quân số địch ở đây thường có từ 5 đến 6 đại đội, được trang bị cả đại bác, đại liên v.v… xung quanh vị trí đều có bốt gác và lô cốt, boong ke phòng ngự kiên cố với 5 đến 6 lớp hàng rào dây thép gai và bãi mìn rộng tới 150m, để đề phòng quân ta tập kích. Nhân dân các làng xung quanh đã đi tản cư hết, chỉ còn 2 làng tề Thanh Giã, Già Khê đều có lực lượng bảo an, tráng dõng và Thanh niên đoàn hoạt động, ta không có cơ sở trong làng. Trong làng Thân, làng Gai cơ sở của ta rất yếu nên  không thể tập kết hay dấu quân được. Vào thời gian tháng 7 giữa mùa mưa, xung quanh khu vực Đồi Ngô nước ngập mênh mông. Sau nhiều lần điều tra, nắm vững các vị trí kho tàng cũng như bố phòng của địch, ta chủ trương dùng lực lượng nhỏ, tập kích bí mật phá kho xăng địch, cản trở địch  tiếp nhiên liệu cho các phương tiện cơ giới trong 2 phân khu Lục Nam và Cầu Lồ. Lực lượng tham gia trận đánh có 15 người, gồm 7 cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 28 và 8 chiến sĩ du kích Cổ Mân (Yên Sơn)[10] mang theo 4 khối bộc phá, mối khối 3kg, 300mét dây điện và lựu đạn. Tối 16-7- 1953, tổ hoạt động lên đường, đến Bãi Giáo gặp địch phải quay về. Tối hôm sau (17-7), tổ chiến đấu đã phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng người. Tổ đã dùng 3 chiếc thuyền để thực hiện nhiệm vụ. Thuyền thứ 1 đi trinh sát mở đường, thuyền thứ 2 là bộ phận chính, thuyền thứ 3 làm nhiệm vụ cảnh giới, bảo vệ. Mỗi thuyền đi cách nhau 200m, đến 7 giờ tối đến chân núi Non. Một bộ phận ở lại cảnh giới và bảo vệ, lực lượng còn lại lên đường 13. Đến 12 giờ đêm, lực lượng ta tiếp cận được mục tiêu, đến 2 giờ sáng đặt xong bộc phá. 3 giờ sáng 18-7-1953, 4 tiếng nổ lớn nối tiếp nhau, cả kho xăng Đồi Ngô bốc cháy sáng rực cả một vùng. Lúc này bộ phận bên ngoài cũng đã làm xong nhiệm vụ cắt dây điện thoại, rải truyền đơn. Toàn đội rút lui an toàn lúc 3 giờ 15 phút. Trận này ta đốt cháy 126.800 lít xăng (631 thùng), 6.000 lít dầu nhờn, 8 nhà kho chứa quân lương, vũ khí, cắt 200mét dây điện thoại. Kho xăng cháy liên tục từ 3 giờ sáng 18-7- 1953 đến chiều 20-7- 1953 mới tắt, bọn địch ở hai phân khu Lục Nam và Cầu Lồ hoàn toàn không trở tay kịp.

Trận đánh vào ngay trung tâm cứ điểm quân sự mạnh nhất phân khu của địch đã làm cho hàng ngũ quân giặc tại Lục Nam hoang mang, dao động cao độ. Ngay hôm sau, chúng vội vã rút lực lượng đi càn quét ở Chũ về. Binh lính Âu phi ở các vị trí An Vun, Núi Rụt, Đồi Ngô, Dốc Ải, Cầu Lồ đã tập trung phản chiến, đòi hồi hương. Bọn nguỵ binh cũng hết sức hoang mang, sợ hãi. Cuối tháng 7, đầu tháng 8-1953 nhiều lính nguỵ đã ra hàng cách mạng. Cuối tháng 7-1953, hai tên biệt kích ở Đồi Ngô trốn ra hàng, được ta cho hưởng khoan hồng, đã tố cáo tội ác dã man của giặc Pháp với bản thân và gia đình binh lính nguỵ. Ngụy quyền ở các xã cũng không dám tự do hoành hành như trước. Tên quận trưởng Lục Nam ( chánh Hân) bị địch tình nghi là nội gián phải điều đi nơi khác. Nhờ đó, du kích các xã đẩy mạnh một bước hoạt động đánh mìn, phá giao thông, quấy rối, bắn tỉa tiêu hao sinh lực địch. Nhân dân hết sức phấn khởi tin tưởng vào thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến.

Để tiếp tục đưa cuộc kháng chiến mau chóng đi đến thắng lợi, Đảng bộ huyện đã tập trung xây dựng và củng cố hậu phương, động viên nhân dân các dân tộc trong huyện khắc phục mọi khó khăn, mở rộng diện tích canh tác, đồng thời phá tan âm mưu lập vành đai trắng của địch. Cuộc vận động giảm tô ở các xã vùng tự do của huyện được tiến hành vào cuối năm 1953 đã đem lại quyền lợi kinh tế và chính trị cho nông dân, cổ vũ động viên nông dân hăng hái thi đua lao động sản xuất, tích cực tham gia kháng chiến.

Công tác xây dựng, chỉnh đốn tổ chức Đảng những năm 1952- 1953 được Đảng bộ tiếp tục đẩy mạnh nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng, sàng lọc những đảng viên không đủ tư cách, vi phạm kỷ luật Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, chính quyền và các tổ chức đoàn thể được củng cố, nâng cao hiệu quả công tác, thực hiện nghiêm chế độ khen thưởng, kỷ luật, khắc phục những tư tưởng cục bộ, hẹp hòi.

5. Ra sức tiến công địch, tiến tới giải phóng quê hương ( tháng 7- 1953- 8- 1954)

 Bước sang năm thứ 9 cuộc chiến tranh Đông Dương của thực dân Pháp, cục diện chiến tranh đã có nhiều biến đổi hết sức căn bản. Bộ đội chủ lực, nòng cốt của cuộc kháng chiến đã trưởng thành cả về số lượng và chất lượng. Lực lượng dân quân du lích thực sự đóng một vai trò quan trọng quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến. Đường lối kháng chiến của Đảng qua thực tế chiến trường ngày càng khẳng định tính đúng đắn. Thực dân Pháp ngày càng khó khăn, lúng túng, sa lầy trong cuộc chiến tranh Đông Dương. Tháng 7-1953 Hăng-ri Na-va, Tổng tham mưu trưởng lục quân khối Bắc Đại Tây Dương được cử sang làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Nhiệm vụ của Na-va là phải tạo ra những điều kiện quân sự làm cơ sở cho một giải pháp chính trị với hy vọng trong vòng 18 tháng sẽ “chuyển bại thành thắng”.

Bước vào Thu Đông 1953-1954, Chính phủ Pháp tăng viện 12 tiểu đoàn từ Pháp và Bắc Phi sang Việt Nam. Thực hiện âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt” bằng đạo dụ “Tổng động viên”. Từ tháng 5-1953 đến tháng 3-1954 địch đã huy động thêm 10 vạn quân nguỵ. Trong vùng chiếm đóng Bắc Giang cũng như hai phân khu Lục Nam và Cầu Lồ, địch  tìm mọi cách củng cố đồn bốt, sửa sang công sự, bổ sung quân số, vũ khí, tăng cường khả năng phòng thủ. Tháng 1-1954, địch dồn dân Lan Mẫu lên ở xung quanh Dốc Ải, tạo ra hàng rào bảo vệ vòng ngoài cho chúng, chống sự tấn công của ta. Chúng mở một số cuộc càn quét ra các xã ven đai, điên cuồng lùng sục các xã vùng tạm chiếm, lùng bắt cán bộ du kích, củng cố tinh thần cho bọn nguỵ quân, nguỵ quyền. Cuối năm 1953, thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ Bắc Giang, bộ đội và dân quân du kích trong huyện đẩy mạnh các hoạt động vũ trang phối hợp với các chiến trường cả nước. Huyện ủy đã chỉ đạo các xã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt nghị quyết của Tỉnh ủy về hoạt động quân sự trong Đông Xuân 1953- 1954, với nội dung chính là tích cực đánh địch càn quét, chống dồn dân bắt lính, tăng cường công tác ngụy vận và ra sức phá đường giao thông vận chuyển của địch, bảo vệ đường vận chuyển ra tiền tuyến của ta. Thực hiện Nghị quyết, du kích tăng cường các hoạt động đánh địch, quấy rối, bắn tỉa, chống càn, phá tề trừ gian,… Du kích Bảo Đài phục kích bắt sống tên đội Văn ở bốt Nưa, khi hắn trốn thoát ta lại bắt được ở Dốc Ải. Du kích Nghĩa Phương phối hợp với bộ đội kéo pháo lên núi tập kích bốt Rồng Khế, tiêu diệt hoàn toàn bốt này. Ngày 3-1-1954, bộ đội địa phương và du kích phục kích đánh mìn diệt địch ở Cầu Lồ. Ngày 31-1-1954, Tiểu đoàn 61 và du kích địa phương tiêu diệt tháp canh Già Khê (Tiên Hưng), phục kích Trại Cống (Đông Hưng), đồng thời ta cũng đã phá được tổ chức “Thanh niên đoàn” phản động ở Tiên Hưng. Phong trào du kích các xã Bảo Đài, Bảo Sơn, Lan Mẫu, Yên Sơn, Nghĩa Phương, Phương Sơn… đã có bước phát triển mới, có khả năng hoạt động độc lập tác chiến đánh địch.

Bước vào mùa Xuân năm 1954, khi chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu, quân dân Lục Nam càng gia sức thi đua giết giặc lập công, đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến. Ở các vùng tạm chiếm, nhân dân tích cực đấu tranh chống địch bắt phu, bắt lính, vận động ngụy quân, ngụy quyền trở về với cách mạng. Lực lượng du kích ra sức đánh địch, phá đường giao thông tiếp viện của chúng, đồng thời bảo vệ các tuyến đường vận chuyển của ta.

Đầu năm 1954, Đảng bộ, chính quyền huyện tiếp tục phát động quần chúng đấu tranh đòi triệt để giảm tô, thực hiện nhiệm vụ đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến ở vùng tự do. Nhân dân trong huyện đã tiến hành hai đợt đấu tranh đòi địa chủ, phú nông phải triệt để giảm tô, tịch thu ruộng đất của các chủ đồn điền người Pháp, Việt gian chia cho dân nghèo. Kết quả bước đầu của cuộc đấu tranh đánh đổ địa chủ phong kiến đem lại quyền lợi thiết thực cho nông dân. Nông dân phấn khởi ra sức tăng gia sản xuất, đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến, động viên tinh thần các chiến sĩ đang chiến đấu trên khắp các chiến trường.

Ngày 13-3-1954, quân ta nổ súng mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ. Thi hành chỉ thị của Bộ tư lệnh, để phối hợp với chiến trường chính, quân và dân địa phương đã thi đua chi viện sức người, sức của cho chiến trường, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiêu hao sinh lực địch. Hàng nghìn dân công các xã vùng tự do, vùng du kích và cả vùng tạm chiếm đã vượt mưa bom, bão đạn lên đường phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Các vị trí Núi Gốm, Chợ Sa, Đồi Ngô, Cầu Lồ… bị bộ đội, du kích ta liên tục vây hãm, bắn tỉa.

Ngày 1-5-1954, Trung đội 59, thuộc tỉnh đội Bắc Giang phối hợp với du kích địa phương đánh biệt kích bốt Chợ Sa, phá 5 xe vận tải, tiêu diệt nhiều sinh lực địch.

Ngày 3-5-1954, bộ đội và du kích xã Nghĩa Phương đi tuần tra phát hiện một toán biệt kích từ Đồi Ngô xâm nhập địa bàn ta. Du kích xã và bộ đội tổ chức lực lượng truy quét, bao vây, bắt sống 9 tên, thu 6 súng lục, 3 tiểu liên, 2 quả mìn và hơn 20 lựu đạn.

Ngày 7-5-1954, quân ta tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chiến thắng này đã cổ vũ tinh thần quân dân địa phương đẩy mạnh quyết tâm thi đua tiêu diệt địch.

Ngày 10-5-1954, du kích xã Cương Sơn phối hợp với bộ đội tập kích Núi Gốm. Đêm 30-5-1954, Trung đội 59 được sự giúp đỡ của du kích địa phương đánh biệt kích kho xăng Đồi Ngô (lần thứ 2), thiêu huỷ hơn 1 vạn lít xăng và nhiều quân trang, quân dụng của địch. Du kích các xã liên tục đánh mìn, phá giao thông, cắt dây điện thoại, quấy rối vị trí địch.

Sau những thắng lợi quân sự của ta trên cả nước cũng như trên địa bàn Lục Nam, bọn địch ở các vị trí đồn bốt trong 2 phân khu Lục Nam và Cầu Lồ hết sức hoang mang, lo sợ. Một số nguỵ binh đã bỏ ngũ trốn ra hàng lực lượng ta. Bọn lính Âu Phi ở các vị trí Đồi Ngô, Cầu Lồ, An Vun v.v… tập trung đấu tranh với bọn chỉ huy, đòi hồi hương. Tinh thần bọn nguỵ quyền suy sụp, rệu rã.

Trước những chuyển biến nhanh chóng, thực hiện chủ trương của Trung ương, Tỉnh uỷ Bắc Giang ra chỉ thị cho quân dân toàn tỉnh: tăng cường hoạt động quân sự ở các địa phương, ra sức tuyên truyền tin chiến thắng của cả nước, khống chế các tuyến đường giao thông của địch, đẩy mạnh công tác địch vận để phối hợp với mặt trận đấu tranh ngoại giao của ta tại Giơ-ne-vơ. Trung ương Đảng và Bộ tư lệnh quyết định mở một chiến dịch mới ở vùng Bắc Giang nhằm uy hiếp địch ở Hà Nội, thu hút các binh đoàn cơ động lên đường 17(1), tạo điều kiện cho quân dân ta đánh mạnh ở đồng bằng, mở rộng vùng giải phóng. Sư đoàn 308 được điều về phối hợp hoạt động với quân dân địa phương. Trước sự phát triển nhanh chóng của tình hình có lợi cho ta, Tỉnh uỷ Bắc Giang đã chủ trương:

- Kết hợp giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích bao vây một số vị trí, kết hợp với công tác địch vận, bức hàng, tạo điều kiện cho chủ lực tiêu diệt. Đồng thời khống chế các vị trí lân cận, không cho chúng ứng cứu nhau.

- Tích cực bắn phá, chia cắt giao thông địch bằng mọi hình thức.

- Vũ trang tuyên truyền vào các thôn làng vùng tạm chiếm, đấu tranh chống địch khủng bố, đàn áp.

- Bảo vệ tuyến giao thông Nam - Bắc qua đường 13.

Đợt hoạt động này bắt đầu từ 5-7 đến 27-7-1954 với sự phân công các đơn vị:

- Đại đội 239 Yên Dũng cùng với bộ đội chủ lực trung đoàn Bắc- Bắc (sư đoàn 308) bao vây vị trí Cầu Lồ.

- Đại đội 243 Lục Ngạn bao vây Phú Một, Đồi Thông

- Tiểu đoàn 61 khống chế đánh địch trên đường 13…

Sáng 5-7-1954, quân ta đồng loạt chiếm lĩnh trận địa, bao vây các vị trí được phân công. Ngày 6-7-1954, tất cả các đồn bốt bị bao vây đều điện về các phân khu Lục Nam, Phủ Lạng Thương xin tiếp viện. Ngay trong đêm, không chờ lệnh chỉ huy, quân địch ở một loạt đồn lẻ và tháp canh đã tự ý rút chạy về Phủ Lạng Thương, hoặc ra hàng quân ta. Bộ đội chủ lực và dân quân du kích các xã trong huyện đồng loạt xiết chặt vòng vây, địch ở các vị trí lâm vào tình trạng thiếu nước, lương thực, thực phẩm.

Ở Cầu Lồ, An-Vun, Con Voi, Từ Xuyên… địch phải thả dù tiếp tế. Quân địch liều mạng ra lấy thực phẩm, đã bị các chiến sĩ ta bắn tỉa. Ở Cầu Lồ, trong 1 ngày tổ “tam tam” của ta đã bắn chết 14 tên địch. Tại bốt Đồi Thông, ta vừa bao vây, vừa binh vận, gọi hàng. Trung đội lính dõng đóng ở đây đã phản chiến, giết chết 2 sĩ quan Pháp rồi mang súng ra hàng cách mạng.

Trung đoàn Bắc- Bắc xiết chặt vòng vây phân khu Cầu Lồ, cùng với bộ đội địa phương quyết tâm tiêu diệt toàn bộ quân địch ở phân khu Cầu Lồ. Đại đội 63 của Tiểu đoàn 80 tiêu diệt tháp canh, đánh sập cầu trên đường 13 và đánh chặn quân tiếp viện của địch từ phân khu Lục Nam xuống. Ngày 13-7-1954, binh đoàn cơ động số 1 và số 4 của địch lên đường 13 cứu nguy cho phân khu Cầu Lồ và Lục Nam, nhưng bị Trung đoàn 28 của ta chặn đánh quyết liệt suốt 1 ngày. Đêm 14-7-1954, tại phân khu Cầu Lồ, Tiểu đoàn 80 của ta chiến đấu dũng cảm, mặc dù bị địch chống trả dữ dội, đã quét sạch bọn địch trên 3/4 cứ điểm. Lực lượng còn lại cố thủ trong 2 lô cốt boong ke. Trận đánh kéo dài sang ngày 15-7, máy bay địch ném bom  trận địa hòng đánh bật quân ta ra ngoài. Quân ta vừa dùng súng máy bắn trả máy bay địch, đuổi chúng lên cao, vừa tìm cách diệt nốt 2 lô cốt boong ke cuối cùng. Đến 16 giờ ngày 15-7-1954, quân ta chiếm lĩnh hoàn toàn phân khu Cầu Lồ, diệt và bắt sống 200 tên địch, thu 2 đại liên, 17 trung liên, 4 cối 81 và nhiều súng trường.

Cùng với nhiệm vụ phối hợp với bộ đội bao vây đánh địch, du kích và nhân dân các xã đã cử các đội xung phong lên đào hố, đắp ụ trên đường 13 để cản trở giao thông địch. Thời gian này, hai xã Yên Sơn, Bắc Lũng đã được chuyển thành vùng du kích từ đầu năm 1954, phong trào phát triển khá mạnh. Du kích 2 xã phối hợp với 1 trung đội địa phương quân Yên Dũng hoạt động vũ trang tuyên truyền, củng cố cơ sở, uy hiếp địch.

Ngày 21-7-1954, thực dân Pháp ký hiệp định Giơ-ne-vơ thừa nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam. Ngày 27-7-1954 lệnh ngừng bắn có hiệu lực. Quân đội Pháp bắt đầu rút khỏi miền Bắc Việt Nam. Trước khi rút quân, thực dân Pháp đã thực hiện nhiều thủ đoạn tuyên truyền, lừa bịp để lôi kéo tay chân và đồng bào công giáo trong vùng tạm chiếm theo địch vào Nam. Ở Đồi Ngô, Thanh Giã, Già Khê, Đại Lâm, Nhật Đức… địch tuyên truyền chúa đã vào Nam, ai không đi theo sẽ mất linh hồn, Việt Minh sẽ trả thù giáo dân v.v… khiến đồng bào công giáo hết sức hoang mang. Trước âm mưu của địch, Tỉnh uỷ Bắc Giang chủ trương tích cực giải thích, vận động giáo dân ở lại quê hương. Huyện ủy đã cử các đoàn cán bộ cùng với Đảng bộ, chính quyền địa phương về các làng công giáo giải thích, tuyên truyền cho đồng bào nhận rõ âm mưu thâm độc của kẻ địch. Nhiều người nhận ra lẽ phải đã ở lại quê hương làm ăn. Ở Thanh Giã có 5 gia đình đã theo địch ra tận Hải Phòng, được tin ở nhà tài sản của họ vẫn được chính quyền giữ gìn nguyên vẹn, nên đã trở lại quê hương. Đồng thời, chi bộ, chính quyền các xã đã cử người lên đồn địch vận động, tuyên truyền anh em binh lính nguỵ – những người lầm đường quay súng trở về với nhân dân, hưởng sự khoan hồng của cách mạng”. Ở các đồn bốt và địa phương vùng tạm chiếm, địch chỉ lôi kéo được những tên tay sai đắc lực theo chúng. Tại các vị trí địch đóng ở địa phương cuối tháng 7-1954 đã có hàng trăm binh sĩ nguỵ trở về với cách mạng.

Để thực hiện công tác tiếp quản chu đáo, Huyện đã phân công:

- Đại đội 243 Lục Ngạn tiếp thu các vị trí: Từ Xuyên, Đồi Thông, Núi Một, Già Khê.

- Đại đội 247 tiếp thu Đồi Ngô, Thanh Giã, An Vun.

- Đại đội 239 tiếp thu Dốc Ải và một số vị trí khác.

- Đại đội 917 Sơn Động được tỉnh đội Quảng Yên giao nhiệm vụ tiếp quản phố Lục Nam và một số đồn, bốt phụ cận như Chỉ Tác, Núi Gốm.

Sáng 27-7, địch rút khỏi Dốc Ải, Đồi Thông, Núi Một, Con Voi và một số vị trí khác trong phân khu Lục Nam. Sáng 30 -7, những tên lính viễn chinh Pháp xâm lược cuối cùng rút khỏi Đồi Ngô. Ngày 30 -7- 1954, quê hương được hoàn toàn được giải phóng, những đoàn quân trở về tiếp quản trong niềm vui hân hoan của nhân dân chào đón những người chiến thắng.

Mặc dù phải trải qua bao khó khăn gian khổ, nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và trực tiếp là của Đảng bộ tỉnh, trong 9 năm kháng chiến đầy gian nan thử thách, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Lục Nam đã đoàn kết, thống nhất, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, lập thành tích xuất sắc trên nhiều lĩnh vực chiến đấu, sản xuất, góp phần cùng cả nước giành thắng lợi vang dội, viết nên những trang sử vàng chói lọi. Với những thành tích đã được trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, quân dân trong huyện đã vinh dự được Đảng và Nhà nước, chính phủ tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý..........

Có được những thành tích vẻ vang nêu trên là do Đảng bộ huyện  đã kế thừa và phát huy truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường của các thế hệ cán bộ, đảng viên, sự đoàn kết đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân các dân tộc trong huyện. Đảng bộ, chính quyền đã quán triệt, vận dụng sáng tạo mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, của Tỉnh ủy để đề ra những biện pháp thực hiện phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của địa phương.

Đảng bộ luôn xác định rõ sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cuộc kháng chiến, nên đặc biệt chú trọng đến công tác xây dựng Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, chính quyền và các đoàn thể quần chúng cả ở vùng tự do và ở vùng địch tạm chiếm ngày càng được củng cố, đã góp phần quan trọng vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Bên cạnh công tác phát triển Đảng, xây dựng củng cố các đoàn thể quần chúng, Đảng bộ cũng kịp thời xử lý những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật và kiên quyết loại trừ những tư tưởng lệch lạc ảnh hưởng đến đoàn kết nội bộ, không ngừng nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng bộ. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm l­ược, thực hiện đ­ường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, nhân dân Lục Nam bất kỳ già trẻ gái trai, giàu hay nghèo, l­ương hay giáo, miền nuôi hay miền ngư­ợc đều đoàn kết một lòng, không sợ gian khổ hy sinh, vừa xây dựng hậu ph­ương kháng chiến vững vàng, vừa ra sức phục vụ tiền tuyến, góp phần đánh thắng giặc Pháp xâm l­ược. Nhân dân Lục Nam tuy còn nghèo về vật chất nh­ưng giàu lòng yêu n­ước th­ương nòi, kháng chiến với ý chí "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ".

Huyện ủy luôn quan tâm tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ giác ngộ chính trị và năng lực lãnh đạo. Trong chiến đấu và trong lãnh đạo sản xuất, đa số cán bộ đảng viên phát huy vai trò tiên phong gương mẫu, không lùi bước trước khó khăn gian khổ, ác liệt để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được nhân dân tin tưởng.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, khối đoàn kết toàn dân luôn được củng cố vững chắc. Các tầng lớp nhân dân luôn tin tưởng vòa đường lối kháng chiến của Đảng, đẩy mạnh thi đua lao động sản xuất, ra sức đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến, tạo thành sức mạnh tổng hợp để đánh bại thực dân Pháp xâm lược.

Đảng bộ đã nhận thức rõ vai trò quyết định của đấu trang vũ trang đối với thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến, nên Đảng bộ huyện đã tập trung mọi trí tuệ lãnh đạo lực lượng vũ trang trên cơ sở vừa kháng chiến, vừa phát triển lực lượng kháng chiến theo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng. Mặc dù trong giai đoạn đầu, có lúc, có nơi công tác lãnh đạo của Đảng bộ đối với lực lượng vũ trang chưa chặt chẽ đẫn đến những tổn thất. Sớm nhận ra những thiếu sót, khuyết điểm, Đảng bộ đã tăng cường công tác lãnh đạo, trực tiếp cử cán bộ, đảng viên hòa mình vào thực tiễn chiến đấu.

Đảng bộ lãnh đạo thực hiện  từng bước nhiệm vụ đánh đuổi đế quốc kết hợp với đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến, đem lại ruộng đất cho nông dân và động viên toàn dân đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng vũ trang tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Trong chiến đấu, các cấp ủy Đảng trực tiếp lãnh đạo du kích chiến tranh trên cơ sở phát động quần chúng nhân dân tham gia, đồng thời có sự phối hợp của các đơn vị bộ đội  chủ lực đóng quân trên địa bàn.

Những kinh nghiệm của Đảng bộ và nhân dân Lục Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược là cơ sở quan trọng để Đảng bộ và nhân dân Lục Nam ngày nay phát huy, tiếp tục vững bước­ tiến lên trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, quyết tâm xây dựng Lục Nam trở thành một huyện giàu mạnh, văn minh của tỉnh Bắc Giang.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương IV

THỰC HIỆN CẢI TẠO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI (1954-1965)

 

1. Tiến hành xóa bỏ tàn tích chế độ phong kiến, khôi phục kinh tế sau chiến tranh (1954-1957)

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, đất nước ta bước vào thời kỳ lịch sử mới. Với âm mưu xâm lược đất nước ta, từ chỗ viện trợ, can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương, đế quốc Mỹ trực tiếp thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài nước ta, phá hoại Hiệp định Giơnevơ, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới vào miền Nam. Đất nước tạm thời chia làm 2 miền: Miền Bắc hoàn toàn giải phóng quá độ lên CNXH; miền Nam tiếp tục đấu tranh chống chế độ thuộc địa kiểu mới của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trước âm mưu xâm lược đất nước ta của đế quốc Mỹ, cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới, với những thời cơ, thuận lợi lớn nhưng cũng nhiều khó khăn, thách thức. Đảng ta sớm xác định nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc trong thời kỳ mới: Xây dựng chủ nghĩa xã hội, chi viện cho cách mạng miền Nam đánh Mỹ, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước.

Từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 9 năm 1954, Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã họp và ra Nghị quyết Về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng. Nghị quyết chỉ rõ nhiệm vụ trước mắt của Đảng ta là: Đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện hiệp định đình chiến để củng cố hòa bình, ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường xây dựng quân đội nhân dân để củng cố miền Bắc, giữ và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam, nhằm củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ trong toàn quốc[11].

Cùng nhân dân cả nước phấn khởi, vui mừng với thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ hy sinh, với ý thức giác ngộ cách mạng cao, vì sự nghiệp chung của cả nước, cán bộ, đảng viên và nhân dân Lục Nam hồ hởi bắt tay vào công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, thu dọn bom mìn, dây thép, hàng rào.

Nhân dân Lục Nam phải đối mặt với những vấn đề khó khăn nghiêm trọng. Sau nhiều năm bị tàn phá bởi chiến tranh, kinh tế nghèo nàn, nông nghiệp lạc hậu, diện tích đất canh tác, trồng trọt bị hoang hóa.

Ở hầu hết các xã vùng thấp, đồng ruộng bỏ hoang, cỏ mọc lút đầu, làng mạc xơ xác, tiêu điều. Dây thép gai, mìn, công sự, tháp canh dày đặc, nhất là khu vực Phương Sơn, Lan Mẫu, Đồi Ngô. Cùng với đó là ảnh hưởng của thiên tai, hạn hán, nhiều làng xã lâm vào cảnh bị nạn đói đe dọa.

Cơ sở vật chất - kỹ thuật, phương tiện phục vụ sản xuất, đời sống... hạn chế. Giáo dục, y tế, văn hóa có bước phát triển nhất định trong kháng chiến nhưng cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ mới. Đời sống nhân dân gặp muôn vàn khó khăn. Bọn tề ngụy, đảng phái phản động tuy đã bị tan rã nhưng vẫn ngấm ngầm hoạt động chống phá cách mạng. Trải qua những năm tháng chiến đấu lâu dài, ác liệt, đội ngũ cán bộ, đảng viên tuy có bước phát triển nhưng bị tổn thất khá nhiều.

Về mặt địa giới, thời kỳ này các xã của Lục Nam thuộc 4 huyện: Cẩm Lý, Đan Hội, Vũ Xá nằm ở Chí Linh (Hải Dương); Bắc Lũng, Khám Lạng, Lan Mẫu, Yên Sơn ở Yên Dũng (Bắc Giang); Chu Điện, Tam Dị, Bảo Đài, Bảo Sơn, Tiên Hưng, Phương Sơn, Đông Phú thuộc Lạng Giang và một số xã, thị trấn thuộc Lục Ngạn cũ. Hầu hết các xã này mới được ghép vào các huyện trên trong thời gian kháng chiến, nhưng vẫn còn nhiều khác biệt do ở xã huyện lỵ. Do không nắm chắc được địa bàn và các diễn biến phức tạp tại từng địa phương nên sự chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền trong thời bình chưa kịp thời, cụ thể.

Thực hiện chủ trương của Đảng về nhiệm vụ khôi phục kinh tế sau chiến tranh, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy và các huyện, tổ chức Đảng và nhân dân các xã bắt tay vào khôi phục kinh tế, phục hồi sản xuất, ổn định đời sống nhân dân.

Nhân dân các xã đã bắt tay vào giải quyết những vấn đề cơ bản và cần kíp. Nhiều cán bộ tỉnh, huyện được cử về phối hợp với cơ sở triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chính sách đối với vùng mới giải phóng, chính sách khoan hồng đối với những người đã cộng tác với địch. Nhiều cuộc mít tinh, hội họp được tổ chức, tuyên truyền về chiến thắng Điện Biên Phủ, cổ động nhân dân nâng cao khí thế cách mạng trong công cuộc xây dựng quê hương. Tổ chức vận động bà con trở về quê hương ổn định cuộc sống.

Từ cuối năm 1954, các cấp ủy xã đã tổ chức nhiều đợt sinh hoạt chính trị cho cán bộ, đảng viên, nhân dân; phổ biến, học tập sâu rộng tình hình mới, nhiệm vụ và chính sách mới của Đảng...

Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, cấp ủy, chính quyền các xã đề ra một loạt biện pháp lãnh đạo nhân dân khôi phục sản xuất. Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh, huyện, các xã đã thành lập các ban sản xuất. Ban hướng dẫn nhân dân khai hoang phục hóa, cải tiến kỹ thuật như cày bừa, làm cỏ, bón phân, sửa chữa mương máng, chống hạn, phòng trừ sâu bệnh... Nhờ đó, năng suất và sản lượng đều tăng, giải quyết được một phần khó khăn về lương thực. Được sự chỉ đạo của các Huyện ủy, ngay sau khi giải phóng, các chợ trong huyện được khôi phục, trở lại hoạt động bình thường, góp phần lớn vào việc lưu thông hàng hóa ở địa phương. Đồng thời, cấp ủy, chính quyền cơ sở tích cực khôi phục lại các ngành nghề để tạo việc làm và tăng thu nhập cho nhân dân. Nhờ có những biện pháp tích cực và đồng bộ, đời sống nhân dân từng bước ổn định.

Cùng với việc lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất, cấp ủy, chính quyền chú trọng đến công tác văn hóa, giáo dục, y tế. Để đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân, cấp ủy và chính quyền các xã vận động nhân dân đóng góp ngày công và vật liệu để xây dựng, tu sửa trường lớp, cử giáo viên đi bồi dưỡng nâng cao kiến thức. Bên cạnh hệ thống giáo dục phổ thông, chính quyền các xã đẩy mạnh phong trào bình dân học vụ, xóa mù chữ bổ túc văn hóa, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở.

Công tác văn hóa thông tin chú trọng tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhằm nâng cao hiểu biết của nhân dân để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Các đội văn nghệ, đội thể thao được tổ chức và phong trào văn hóa, văn nghệ, thể thao được đẩy mạnh đã góp phần tạo khí thế sôi nổi ở nhiều địa phương sau ngày giải phóng. Phong trào thực hiện nếp sống mới, ăn ở hợp vệ sinh được phát động sâu rộng trong các thôn xóm, được nhân dân nhiệt tình tham gia. 

Cùng với ổn định sản xuất và đời sống vùng mới giải phóng, khai hoang phục hóa, đấu tranh chống âm mưu phá hoại của địch. Các cấp ủy và chính quyền xã đẩy mạnh công tác chống địch dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào, nhất là đồng bào theo đạo Thiên chúa di cư vào Nam. Tuy nhiên thời gian đầu do mới giải phóng, còn bộn bề với công việc khôi phục và do chưa nắm được âm mưu sâu xa của địch, chúng ta chậm phát hiện âm mưu, thủ đoạn của địch và chưa có biện pháp ngăn chặn kịp thời. Ở các xã miền núi hẻo lánh, dân cư thưa thớt, giao thông đi lại bị chia cắt, chưa có cơ sở hoặc cơ sở còn quá mỏng trong khi thổ phỉ, ngụy quân, ngụy quyền còn lại khá nhiều, ngang nhiên tổ chức nhiều hoạt động chống phá. Các xã vùng xuôi và giáp ranh bị quân Pháp cài cắm gián điệp, đội lốt tôn giáo lôi kéo, dụ dỗ, cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam, móc nốin gây dựng các ổ nhóm phản động, nhất là ở Thanh Giã, Già Khê, Đồi Ngô, Bảo Đài, Tiên Hưng, Đan Hội… Bằng các thủ đoạn dọa dẫm, phao tin đồn nhảm, xuyên tạc và nói xấu cách mạng, chúng đã lôi kéo được 504 gia đình với tổng số 2.078 người rời bỏ quê hương cùng 308 tề ngụy cũ nghe theo chúng di cư vào Nam. Thôn Già Khê di cư gần hết, chỉ còn lại một gia đình. Liên tục trong một thời gian dài, chúng gây ra các vụ trộm cắp, ném đất đá, quăng lựu đạn, phá cổng chào, xé biểu ngữ, khẩu hiệu, gây ra các vụ lộn xộn về an ninh xã hội. Chúng cướp súng của bộ đội ở Thanh Giã, ném lựu đạn phá trạm gác của ta ở Đồi Ngô, chi phối cơ sở Đảng và chính quyền ở các xã Tiên Hưng, Bảo Đài.

Song song với việc vận động quần chúng nhận rõ âm mưu thủ đoạn thâm độc của địch, tổ chức Đảng phối hợp với các cơ quan an ninh làm trong sạch địa bàn, kiên quyết trừng trị bọn phản động ngoan cố, củng cố niềm tin trong nhân dân. Phát hiện và xử lý các hành vi phá hoại.

Các đơn vị bộ đội đóng trên địa bàn đã phối hợp với nhân dân gỡ mìn, phá dỡ thép gai, san lấp công sự, hố bom để tạo điều kiện khai hoang phục hóa, phục hồi sản xuất nông nghiệp, ổn định đời sống nhân dân. Hàng chục cán bộ cấp tỉnh đã được cử về Bắc Lũng, Khám Lạng, Yên Sơn, Chu Điện, Phương Sơn, Tiên Hưng, Tam Dị… cùng cán bộ địa phương chỉ đạo cứu đói. Trong các tháng 4, 5, 6 – 1956, nhiều đơn vị bộ đội thực hiện một ngày bớt một bữa dành gạo giúp dân; tổ chức đào giếng, khơi vét mương máng, tát và gánh nước tưới lúa, hoa màu giúp nhân dân. Những xã có nhiều gia đình đói nghiêm trọng như Lan Mẫu, Bắc Lũng[12] đã dần dần được cải thiện cuộc sống. Nạn sốt rét do phải lên rừng đào củ mài, kiếm củi đã giảm. Các xã nằm trong vành đai trắng như Lan Mẫu, Yên Sơn, Bắc Lũng,… đã được ngân hàng nhà nước cho vay vốn để mua trâu, bò, cây con giống, nông cụ[13].

Trước tình hình đó, các cấp ủy tiến hành một đợt học tập sâu rộng trong cán bộ đảng viên, lực lượng vũ trang địa phương về Chỉ thị 103 của Trung ương Đảng và Chỉ thị 46 của Liên khu ủy. Qua học tập đã nâng cao nhận thức về âm mưu của địch, tăng cường cảnh giác cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Được sự giúp đỡ của chính quyền dần ổn định, kịp thời ngăn chặn những âm mưu phá hoại, gây rối của kẻ thù, lãnh đạo nhân dân yên tâm, bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới trên quê hương.

Cùng với công cuộc phục hồi sản xuất, ổn định cuộc sống, từ năm 1955, các cấp ủy và chính quyền lãnh đạo nhân dân thực hiện cải cách ruộng đất theo quyết định của Bộ chính trị về “Ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất” nhằm “Đưa ruộng đất về tay nông dân”. Dưới sự lãnh đạo của cấp trên, các xã tiến hành phát động quần chúng nông dân cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức. Đội cải cách ruộng đất đã về các thôn xóm, “ba cùng” với phương châm “dựa vào bần cố nông, đoàn kết với trung nông, liên hợp với phú nông” để đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ đưa ruộng đất về tay nông dân.

Đầu năm 1955, toàn bộ các xã khi đó còn thuộc Lạng Giang (Hòa Bình A, Tam Dị, Bảo Đài, Bảo Sơn, Tiên Hưng, Phương Sơn, Tân Lập) và Yên Dũng (Yên Sơn, Bắc Lũng, Lan Mẫu) và một số xã thuộc huyện Lục Ngạn đã tiến hành cải cách ruộng đất đợt 3. Sau hơn nửa năm hòa bình lập lại, khẩu hiệu Người cày có ruộng đã được thực hiện. Nông dân đã được chia hàng ngàn mẫu ruộng, trâu bò, nhà cửa, nông cụ. Người nông dân được giải phóng hoàn toàn.

Cải cách ruộng đất đã đem lại kết quả to lớn: tịch thu, trưng thu và trưng mua nhiều tài sản của địa chủ gian ác chia cho nông dân. Điều đặc biệt quan trọng là giai cấp địa chủ phong kiến bị đánh đổ, chế độ chiếm hữu ruộng đất bị xóa bỏ.  Người nông dân từ vị trí làm thuê lên địa vị người làm chủ. Mục đích của cải cách ruộng đất là đúng đắn. Song, cũng như nhiều địa phương khác ở miền Bắc, quá trình cải cách ruộng đất ở các xã cũng không tránh khỏi những sai lầm, nhất là sai lầm trong chỉnh đốn tổ chức. Đội cải cách không dựa vào tổ chức Đảng, chính quyền, vào thực tế của địa phương thực hiện giáo điều, công thức dẫn đến kết quả là nhiều người bị quy sai thành phần. Mặc khác, do chủ trương đặt định mức, chỉ tiêu cho từng thôn về số địa chủ dẫn đến một số phú nông, trung nông cũng bị quy kết thành địa chủ. Trong quá trình triển khai thực hiện cải cách ruộng đất, tổ chức Đảng, chính quyền có lúc bị vô hiệu hóa, đội cải cách ruộng đất do trên điều về được giao quá nhiều quyền hạn, ít có sự phối hợp với tổ chức Đảng, chính quyền địa phương trong khi thực thi nhiệm vụ. Một số cán bộ đảng viên, quần chúng cốt cán bị xử trí oan sai. Trong những ngày tiến hành cải cách ruộng đất, tình hình ở thôn xóm rất căng thẳng tình đoàn kết ở thôn xóm có biểu hiện rạn nứt.

Hội nghị lần thứ 10 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa II) tháng 9 năm 1956 đã đánh giá đúng đắn những thắng lợi cơ bản của cải cách ruộng đất, đồng thời cũng nêu ra những sai lầm, khuyết điểm và nêu ra nhiệm vụ sửa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất.

Chấp hành Chỉ thị của Trung ương, Tỉnh ủy Bắc Giang đã tổ chức học tập thảo luận và kiên quyết sửa sai. Cuối năm 1956, dưới sự chỉ đạo của các Huyện ủy, các xã tổ chức Tổ công tác sửa chữa và triển khai học tập tài liệu Sửa sai để tiến lên”, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 10 (Khóa II), Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Sắc lệnh sửa sai của Chính phủ và kế hoạch sửa sai của Tỉnh tới từng cán bộ, đảng viên và đông đảo quần chúng nhân dân. Nhiệm vụ của công tác sửa sai là: chấn chỉnh lại tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng; xác định lại thành phần cho đúng ở từng trường hợp. Sau gần một năm, với phương châm thận trọng, “vững chắc”, sai đâu sửa đấy, công tác sửa sai cơ bản hoàn thành, trả lại đúng thành phần, bồi thường tài sản, ruộng đất cho những người bị quy sai trước đây. Việc đánh giá địa chủ có phân rõ địa chủ thường và địa chủ kháng chiến. Cán bộ, đảng viên bị xử lý sai được minh oan, khôi phục lại đảng tịch và vị trí công tác, trả lại chức vụ cho nhiều đồng chí, phân công, chỉ định lại một số chức vụ bí thư, phó bí thư và thường vụ chi ủy xã. Các ủy ban hành chính xã được kiện toàn, nhiều chủ tịch, phó chủ tịch xã được thay đổi, nhiều ủy viên được trả lại chức vụ cũ. Việc quy lại thành phần cũng được hoàn thành[14].

Hạng mục

Thành phần

Quy trong CCRĐ

Sai

Đúng

Mới

lên,

xuống

Lọt lưới

Cộng

Số người

Tỷ lệ

Địa chủ,
cường hào gian ác

26

14

55,88

12

4 ↑

 

16

Địa chủ thường

Địa chủ kháng chiến

409

217

55,05

192

2  ↓

20

14

1

208

21

 

 Do làm tốt công tác chính trị tư tưởng, khơi dậy truyền thống đoàn kết và nhiệt tình cách mạng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nên trong quá trình sửa sai ở địa phương đã không xảy ra hiện tượng xích mích giữa người đấu tố và người bị qui sai. Công tác sửa sai ở các xã đã hoàn thành, tình hình chính trị - xã hội ở nông thôn ổn định trở lại, nhân dân yên tâm hăng hái đẩy mạnh phong trào xây dựng và phát triển kinh tế- văn hóa. Các tổ chức Đảng ở địa phương đoàn kết thông nhất, dựa vào dân, gắn bó với nhân dân, tổ chức Đảng, chính quyền ổn định, phát huy vai trò lãnh đạo ở cơ sở.

Trong quá trình tiến hành sửa sai cải cách ruộng đất, các tổ chức Đảng tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, làm cho cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu rõ đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, Sắc lệnh sửa sai của Chính phủ… Tổ chức cơ sở Đảng được kiện toàn, hoàn thành cải cách ruộng đất với nội dung phân biệt rõ ranh giới giữa nông dân với địa chủ, giữa lao động với bóc lột, phân rõ ranh giới giữa ta, bạn và địch, xóa bỏ những tàn tích của chế độ phong kiến còn sót lại, trấn áp bọn phản động phá hoại, giữ vững trật tự an ninh, tăng cường đoàn kết dân tộc, xua tan không khí căng thẳng trong thôn xóm làm cho quần chúng hoang mang.

Dưới sự chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, các huyện ủy, các tổ chức cơ sở Đảng được củng cố, kiện toàn một bước, thực sự trở thành hạt nhân lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương.  

Trong thời gian ngắn, các cấp ủy, chính quyền và nhân dân các xã khắc phục khó khăn thách thức, giành nhiều thành tựu quan trọng, đã hoàn thành nhiệm vụ khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, đẩy lùi nạn đói. Nhờ truyền thống yêu nước cách mạng, tương thân tương ái, tinh thần lao động cần cù của nhân dân các dân tộc; các xã đã hoàn thành cải cách ruộng đất và sửa sai; tổ chức Đảng, chính quyền dân chủ nhân dân được củng cố thêm một bước. Qua đó càng khẳng định mạnh mẽ hơn vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức Đảng ở địa phương trong phong trào cách mạng, tạo thế và lực mới cho khi huyện Lục Nam được thành lập.

2. Huyện Lục Nam thành lập, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất ban đầu của chủ nghĩa xã hội (1957-1965)

Ngày 21-1-1957, huyện Lục Nam được thành lập theo Nghị định số 024-TTg của Thủ tướng Chính phủ, với diện tích gần 600km2, dân số có trên 52.000 người, gồm nhiều dân tộc[15]

Trình độ kinh tế, văn hoá giữa các vùng trong huyện không đồng đều, còn nhiều hủ tục lạc hậu nặng nề do chế độ phong kiến để lại. Cơ sở Đảng và chính quyền các xã còn mỏng và non yếu. Quy mô xã còn quá rộng, mới bước đầu đi vào ổn định... Đây là những khó khăn lớn mà huyện Lục Nam phải nỗ lực vượt qua.

Cùng với việc đệ trình Chính phủ phân chia lại địa giới một số xã, Tỉnh uỷ Bắc Giang chỉ định Ban Chấp hành Đảng bộ lâm thời gồm 6 đồng chí, do đồng chí Bùi Văn Khuể làm Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban hành chính, đồng chí Đức Minh giữ chức Phó Bí thư, phụ trách công tác dân vận.

Đảng bộ huyện Lục Nam ngày mới thành lập có 445 đảng viên, chiếm tỷ lệ 0,85% dân số, phải gánh vác những trọng trách nặng nề trên nhiều lĩnh vực, trong đó có việc bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, xây dựng hệ thống tổ chức đảng ở cơ sở, hoàn thiện bộ máy quản lý cấp huyện và cơ sở.

Là một huyện miền núi nên tiến độ cải cách ruộng đất có phần chậm, mức độ sai lầm không nghiêm trọng như các nơi khác. Mặc dù một số người có mối quan hệ hoặc làm tay sai cho địch lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm của quá trình thực hiện cải cách ruộng đất ở địa phương kích động nhân dân. Nhiều cuộc xô xát đã xảy ra giữa những người bị quy sai thành phần bóc lột với một số cốt cán trong cải cách ruộng đất. Song, nhờ thực hiện nghiêm túc các chỉ thị của cấp trên và dựa vào lực lượng quần chúng, công tác sửa sai từng bước giành thắng lợi, nông thôn đi dần vào ổn định, tình đoàn kết tương trợ của người dân được củng cố và tăng cường. Công tác sửa sai ở Lục Nam tính đến tháng 10-1957 đã hoàn thành về cơ bản.

Công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ này được coi trọng. Đến cuối năm 1958, Đảng bộ huyện có 25 chi bộ cơ sở với 525 đảng viên. Mặc dù lề lối làm việc còn luộm thuộm, có nhiều thiếu sót, song với tinh thần nhiệt tình cách mạng cao, Đảng bộ đảm đương tốt nhiệm vụ lãnh đạo nhân dân các dân tộc vượt qua hó khăn thách thức, hoàn thành cơ bản nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế - văn hoá (1958-1960)

Kết thúc thắng lợi kế hoạch 3 năm khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa đã tạo những cơ sở quan trọng cho miền Bắc thực hiện kế hoạch cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế. Tháng 11 năm 1958, Ban chấp hành Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị lần thứ 14 (Khóa II) đề ra chủ trương về phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội ở miền Bắc là:

- Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, đồng thời chú trọng sản xuất công nghiệp, lấy sản xuất nông nghiệp làm khâu chính và chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề lương thực.

- Ra sức cải tạo nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh theo chủ nghĩa xã hội, khâu chính là đẩy mạnh hợp tác hóa nông nghiệp.

- Trên cơ sở phát triển sản xuất, nâng cao thêm một bước đời sống vật chất và văn hóa của đồng bào.

 Từ ngày 6 đến ngày 8 - 1 - 1959, Đảng bộ huyện Lục Nam tiến hành Đại hội Đảng bộ lần thứ nhất. Dự Đại hội có 60 đại biểu chính thức, 7 đại biểu dự khuyết. Đại hội đã nghiêm khắc kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng bộ trong 2 năm (1957-1958), đánh giá tình hình tổ chức Đảng, hoạt động của chính quyền và các đoàn thể quần chúng, nhất là sau cải cách ruộng đất và sửa sai. Đại hội nhấn mạnh kết quả đạt được trong công tác khai hoang phục hóa với hàng ngàn héc ta ruộng được đưa vào gieo trồng; về cuộc đấu tranh chống âm mưu của địch lôi kéo đồng bào di cư vào Nam; về phát triển phong trào bình dân học vụ; xây dựng cơ sở vật chất kinh tế - xã hội. Đánh giá tình hình nông nghiệp, nông thôn trong huyện sau sửa sai cải cách ruộng đất; phong trào xây tổ đổi công, hợp tác xã nông nghiệp….

Căn cứ vào tình hình và điều kiện địa phương, Đại hội xác định nhiệm vụ: cải tạo xã hội chủ nghĩa, trong đó trọng tâm là cải tạo quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, đưa nông dân và ruộng đất vào các hợp tác xã nông nghiệp. Cải tạo quan hệ sản xuất để nâng cao năng suất lao động và cơ sở để cải biến văn hóa – xã hội, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, hoàn thành nghĩa vụ đóng góp Nhà nước; tăng cường lực lượng quân sự địa phương; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Đại hội bầu Ban chấp hành Đảng bộ huyện Khóa I gồm 13 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Xuân Tống làm Bí thư[16], đồng chí Nguyễn Trọng Quang làm Phó bí thư.  

Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ nhất, thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, những tháng đầu năm 1959, Lục Nam tiến hành cuộc vận động cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế, trước hết và trọng tâm là cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp. Với phương châm công tác tư tưởng đi trước một bước, thống nhất về tư tưởng là đảm bảo cho sự thống nhất trong hành động, nâng cao ý thức tự giác cách mạng của cán bộ, đảng viên và nhân dân là yếu tố tinh thần quan trọng. Đảng bộ đẩy mạnh tổ chức học tập, tuyên truyền sâu rộng, mạnh mẽ để phân biệt rõ về hai con đường chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, xác định công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế cá thể có tính chất quyết định. Qua tuyên truyền giáo dục, vận động, người dân, cán bộ, đảng viên nhận thức tầm quan trọng của chủ trương này. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền các cấp, trong những năm 1957 - 1958, phong trào thành lập tổ đổi công phát triển rầm rộ, sôi nổi. Với tinh thần cách mạng cao, các tổ đổi công phát triển đa dạng, phù hợp với điều kiện cụ thể, hoạt động thường xuyên và hiệu quả. Bà con nông dân bước đầu làm quen với lối làm ăn tập thể, làm cơ sở cho phong trào xây dựng hợp tác xã.

Tình hình xây dựng tổ đổi công và hợp tác xã ở Lục Nam 3 năm (1958-1960)

Năm

Loại hình

1958

1958

1960

Tổ đổi công hoạt động thường xuyên

280

218

85

Tổ đổi công bình quân chấm điểm

32

26

13

Tổ đổi công theo vụ việc

423

436

167

Hợp tác xã

3[17]

118

215

 

Phát huy những kết quả đạt được trong phong trào thành lập tổ đổi công, dưới sự lãnh đạo của các xã tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp. Đảng bộ, chính quyền các xã tích cực tổ chức học tập, quán triệt trong cán bộ, đảng viên, trưởng thôn, tổ trưởng, tổ phó tổ đổi công về tầm quan trọng của hợp tác hóa. Tiếp đó, Đảng bộ, chính quyền tổ chức cho nông dân học tập Điều lệ hợp tác xã. Qua nghiên cứu, hiểu rõ được quyền lợi và nghĩa vụ, các hộ đã làm đơn tự nguyện xin vào hợp tác xã. Phong trào hợp tác hóa nông nghiệp đã xác lập quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa ở nông thôn, tạo điều kiện về mọi mặt cho việc xây dựng những công trình thủy lợi và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Đồng thời với phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, Đảng bộ lãnh đạo thực hiện cải tạo quan hệ sản xuất đối với tiểu thủ công nghiệp, những người buôn bán nhỏ. Những nơi có nghề thủ công có qui mô sản xuất không lớn được xã bố trí thành tổ sản xuất tiểu thủ công trong hợp tác nông nghiệp như tổ thợ rèn, tổ thợ mộc, tổ thợ xây… phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân trong địa bàn.

Các hợp tác xã nông nghiệp phát triển mạnh. Từ 3 hợp tác xã, năm 1958, với 105 hộ (1% tổng số hộ) gồm hợp tác xã Khám Nồi (Khám Lạng), Vũ Trù Làng (Vũ Xá), Ba Gò (Nghĩa Phương), sang năm 1959, các hợp tác xã này phát triển mạnh, thu hút 50,1% tổng số hộ vào làm ăn tập thể, có 44 hợp tác xã thuộc loại khá, 70 thuộc loại trung bình và 90 hợp tác xã lên bậc cao.   

Nhận thực rõ thủy lợi là vấn đề then chốt của phát triển kinh tế nông nghiệp của địa phương, ngay từ cuối năm 1958, Huyện uỷ đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh mặt trận thủy lợi, xác định: "Công tác phòng hạn, chống hạn là một công tác sinh tồn của nhân dân, phải kiên quyết khắc phục mọi khó khăn, tuyên truyền giáo dục cho quần chúng tích cực thi đua phòng hạn, chống hạn để đảm bảo lúa và hoa màu”. Đồng thời, Đảng bộ chỉ đạo đẩy mạnh cải tiến kỹ thuật, vận động phong trào thật sâu rộng, giáo dục ý thức cho quần chúng về vấn đề cải tiến kỹ thuật canh tác, tích cực làm phân và dùng phân, làm cỏ, cày bừa kỹ để đảm bảo tăng năng suất.

Để thuận tiện cho việc canh tác, tạo ra vùng sản xuất tập trung, Huyện Lục Nam đã tiến hành dồn thửa cho phù hợp với địa bàn của từng thôn. Trên cơ sở đó, các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp đã tiến hành xây dựng kế hoạch sản xuất cho từng vụ, tăng cường các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất, đầu tư giống mới cho năng suất cao... Thế mạnh của lối làm ăn tập thể được phát huy trong phong trào: ruộng nhỏ phá bờ, sửa cống giữ nước, xây dựng nhà kho, sân phơi, chuồng trâu... Ngoài diện tích gieo trồng thuận lợi, các hợp tác xã đẩy mạnh mở rộng diện tích các tác trên các loại ruộng đất phân tán, canh tác khó khăn.

Với đặc điểm của huyện miền núi, nhiều nơi tập quán sản xuất và kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, việc áp dụng từng bước cải tiến kỹ thuật là việc làm quan trọng để nâng cao năng suất cây trồng. Ngoài vụ chiêm và mùa, các hợp tác xã cấy lúa Nam Ninh, Ba Giăng. Năm 1957, diện tích gieo trồng của Lục Nam đạt 11.048 ha. Từ năm 1958, công tác khai hoang, phục hoá giành nhiều thắng lợi, diện tích gieo trồng tăng lên. Nhiều loại nông cụ cải tiến được mạnh dạn đưa vào sản xuất như kiểu cày 51 của Trung Quốc hoặc cày chìa vôi cải tiến theo kiểu cày 51. Có nhiều nơi như các hợp tác xã Khám Nồi, Quán Bông dùng 100% cày 2 lưỡi, 4 lưỡi.

Công tác thủy lợi được đẩy mạnh. Những đợt vận động toàn dân đắp bờ vùng được phát động và được nhân dân hưởng ứng sôi nổi. Huyện tập trung lực lượng đắp đập Yên Sơn, đào đắp 151 đập nhỏ, nạo vét 132 mương, 133 bờ giữ nước, 1 con ngòi với tổng khối lượng đất là 264.446 m3. Xã Bảo Đài khắc phục được tình trạng thiếu nước. Sáu tháng đầu năm 1960, toàn Huyện đã đào đắp được khối lượng 326.507m3 đất đá. Các xã đã huy động lực lượng dân quân tham gia làm thủy lợi. Dân quân thôn Đại Từ xã Bảo Đài đã tổ chức đắp một đập dài 10 mét thành hồ chức nước có thể tưới cho 500 mẫu lúa và dân quân xã Tân Lập đắp đập dài 100 mét, hai xã này đã dẫn đầu phong trào đắp đập chống hạn. Toàn Huyện đắp được 21 đập, tổng số dài 248 mét và đào 2 mương dẫn nước dài 700 mét, phục vụ tưới tiêu gần 1.000 mẫu lúa...

Nhờ sự lãnh đạo kịp thời, đúng hướng của Huyện trong 3 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế, Đảng bộ và nhân dân Lục Nam đã vượt qua khó khăn, đảm bảo thời vụ gieo cấy. So với năm 1958, diện tích gieo trồng năm 1960 tăng 11,74% (lúa tăng 10,16%, màu tăng 6,4%, cây công nghiệp tăng 22,34%, cây thực phẩm tăng 39,6%). Trong những năm này, năng suất, sản lượng lượng thực đều tăng, đạt 50 - 60 kg/sào, thu nhập lượng thực bình quân đầu người  đạt 700kg/năm.  Năm 1958, tổng sản lượng lương thực đạt 16.786 tấn (15.337 tấn thóc), năm 1960 23.677 tấn.

 

Tổng DT gieo trồng (ha)

Diện tích lương thực

DT lúa cả năm[18] (ha)

DT trồng hoa màu (ha)

DT

cây công nghiệp (ha)

DT

cây thực phẩm (ha)

Sản lượng lương thực đầu người (kg/năm

Bình quân khẩu/tháng/kg)

1958

12.932,47

11.603,63

11.181,10

422,53

540,27

878,57

436

28,7

1959

12.732,47

11.437,27

11.081,70

355,57

400,76

894,14

462

30,9

1960

14.647,18

12.902,21

12.434,30

467,91

463,31

1.281,67

439

29

 

Công tác mặt văn hóa xã hội, giáo dục, y tế có bước phát triển mới. Hệ thống trường lớp phổ thông từng bưcớ được xây dựng đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Năm học 1957-1958, cả huyện có 78 giáo viên, 81 lớp và 4.213 học sinh vỡ lòng, 62 giáo viên dạy ở 13 trường phổ thông cấp 1 với 3.150 học sinh. Năm học 1958 - 1959, hệ vỡ lòng giảm (3.675 học sinh, đạt 41,3%), trong khi đó hệ phổ thông lại có bước tiến bộ vượt bậc: các xã đã xây dựng được trường cấp 1, đưa tổng số trường lên 25 trường với 81 lớp, 3.366 học sinh, tăng 9,4% so với năm học trước. Đồng thời, Huyện còn mở một lớp 5 đầu tiên của cấp 2 với 65 học sinh. Phong trào bình dân học vụ, xóa mù chữ phát triển mạnh mẽ, 16 xã vùng xuôi, 1 xã miền núi đã thanh toán xong nạn mù chữ cho các đối tượng trong độ tuổi. Cùng với giáo dục phổ thông và bình dân học vụ, huyện đẩy mạnh công tác bổ túc văn hóa, năm 1958 có tới 1.874 người theo học bổ túc văn hoá, trong đó có 893 người đã mãn khóa.

Phong trào vệ sinh phòng bệnh được tiến hành sâu rộng, cán bộ y tế tập trung vận động, hướng dẫn nhân dân thói quen dùng thuốc chữa bệnh, thực hiện vệ sinh ăn uống và sinh hoạt, xây dựng hố xí, khẩu hiệu “sạch làng tốt ruộng”. Tích cực diệt muỗi, đẩy mạnh tiêm chủng. Công tác y tế các xã đã làm tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân. Năm 1958, huyện có một trạm xá với 9 giường bệnh, 12 y tá.

Công tác văn hoá - thông tin tập trung vào việc vận động xây dựng và thực hiện nếp sống mới, giản dị và tiết kiệm.  Phong trào văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao được đẩy mạnh, thu hút đông đảo nhân dân tham gia.   

Trong những năm đầu hòa bình lập lại, tình hình an ninh hết sức phức tạp. Năm 1957, địch đã cho nhiều lượt máy bay do thám. Bọn phản động ra sức phao tin đồn nhảm, gây tâm lý hoang mang, lo lắng nghi ngờ trong nhân dân. Trên địa bàn miền núi, một số phần tử từ Trung Quốc vượt biên giới sang cấu kết với bọn phản động ở địa phương, chủ yếu dựa vào bọn phỉ, biệt kích và lợi dụng mối quan hệ thân tộc để lập phỉ, gây rối loạn ở địa phương[19]. Tháng 5-1959, Voòng A Sám từ Trung Quốc vượt biên sang gây cơ sở ở Hổ Thượng - Đồng Cốc (Lục Ngạn) và đến tháng 12-1959 bọn Lâm Tống Lường sang móc nối với bọn phản động ở Đông Hưng, Thống Nhất (Lục Ngạn)…. Chúng dụ dỗ một số cán bộ và nhân dân đi theo, góp tiền, gạo để nuôi chúng; tổ chức dạy võ, tập trung ở địa điểm nhất định để đón máy bay Mỹ - ngụy thả vũ khí để gây phỉ, đưa người trốn vào Nam. Chúng tổ chức những cuộc phục kích giết cán bộ và bộ đội, tổ chức cướp súng của dân quân, phá kho tàng xảy ra trên địa bàn Lục Nam.

Trong năm 1960, tình hình an ninh xã hội ở Lục Nam vẫn hết sức phức tạp. Âm mưu lập phỉ, gây vũ trang bạo loạn của bọn phản cách mạng ngày càng rõ. Tại là các vùng Cầu Nhạc (Phong Vân), Cái Cặn (Hộ Đáp), Chẽ (An Lập), Hố Giỏ (Đông Phú), Hòn Ngọc (Tam Dị) tình hình an ninh diễn biến phức tạp, nghiêm trọng. Các nhóm phản động khống chế quần chúng, ngăn cản việc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ ở một số huyện thuộc các tỉnh Hải Dương, Quảng Yên, Hải Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên và vùng núi Bắc Giang. Công an Bắc Giang đã phối hợp chặt chẽ với công an các tỉnh chủ động đối phó, ngăn chặn những hành động phá hoại của chúng. Hầu hết bọn đầu sỏ bị bắt (Voòng A Sám bị bắt ở Hải Ninh năm 1958, Lâm Tống Lường bị bắt ở Đông Hưng năm 1960). Lực lượng vũ trang tổ chức truy bắt những tên còn lại khi chúng chạy trốn vào rừng (Tàng Sầu Và, Hồ Cương, Coóng Chí, A Sắt). Một số người bị dụ dỗ, cưỡng ép làm tay sai cho địch như Bùi Đình Ngưu - Chủ tịch Ủy ban hành chính xã Trường Sơn cũng bị bắt với đầy đủ tài liệu, điện đài, con dấu, ống nhòm.

Qua sưu tra các nhóm thổ phỉ, biệt kích cũ ở miền núi, đã nắm được hồ sơ của 525 tên, trong đó có 59 đầu sỏ nguy hiểm. Ở các địa bàn xung yếu, tập trung nhiều biệt kích, phỉ cũ, công an huyện đã phối hợp với cơ sở theo dõi, do đó nắm được danh sách hàng chục tên phản cách mạng Trung Quốc vượt biên, bắt được nhiều tên. Thi hành Chỉ thị 186 CT/TW, chính quyền địa phương và lực lượng vũ trang đã tiến hành đợt cải tạo, làm trong sạch dần địa bàn miền núi (khoanh vùng cải tạo ở 3 xã Đông Hưng, Tam Dị và Đông Phú). Tình hình an ninh chính trị, trật tự trị an được giữ vững.

Ngày 1-5-1960, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Lục Nam lần thứ II khai mạc. Dự hội nghị có 110 đại biểu chính thức, 8 đại biểu dự khuyết thay mặt cho 773 đảng viên trong toàn Đảng bộ, kiểm điểm các hoạt động trong nhiệm kỳ I, thông qua phương hướng hoạt động trong hai năm 1960-1961. Đại hội đã bầu Ban chấp hành Khóa II gồm 20 ủy viên (17 chính thức, 3 dự khuyết). Đồng chí Nguyễn Xuân Tống được Đại hội tín nhiệm bầu lại làm Bí thư Đảng bộ, đồng chí Nguyễn Trọng Quang được tái cử chức vụ Phó Bí thư.

Đảng bộ Lục Nam lãnh đạo các đoàn thể tổ chức kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, kỷ niệm 70 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và các ngày lễ lớn. Những hoạt động này làm tăng thêm không khí phấn khởi, sôi nổi trong sinh hoạt chính trị ở Lục Nam. Đảng bộ đã có bước trưởng thành cả về chất lượng và số lượng. Đến cuối năm 1960, Đảng bộ có 857 đảng viên.

Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III,(9-1960), Đảng bộ và chính quyền Lục Nam chỉ đạo cấp uỷ chính quyền các xã đi dần vào ổn định. Ở cấp Huyện, các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, công an, quân đội, văn hoá, giáo dục, y tế... từng bước kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động. Các đơn vị hành chính và địa giới của huyện ổn định, có 25 xã, 1 thị trấn.

Năm 1960, Tỉnh uỷ Bắc Giang ra Nghị quyết về tăng cường công tác cơ sở ở miền núi một cách toàn diện và nhấn mạnh việc củng cố cơ sở miền núi là một trong những nhiệm vụ quan trọng, lâu dài và thường xuyên. Thực hiện kế hoạch xây dựng lực lượng dân quân miền núi mạnh, được khả năng tác chiến tại chỗ, bảo vệ được trị an, trật tự an toàn xã hội, huyện đội Lục Nam mở nhiều lớp huấn luyện ngắn hạn, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ xã đội, thôn đội và liên tục cử cán bộ xuống cơ sở giúp huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, rèn luyện và giáo dục chính trị tư tưởng. Trong công tác quân sự địa phương, phong trào dân quân có một số tiến bộ rõ rệt, không khí phấn khởi, hăng hái hoạt động, sinh hoạt được nâng lên, đội dân quân các xã được tổ chức chặt chẽ, có nhiều tác dụng động viên phong trào chung, Các xã Hòa Bình, Cương Sơn, thị trấn Lục Nam đã chủ động tổ chức huấn luyện quân sự cho dân quân đạt 100%.

Công tác tuyển quân làm nghĩa vụ quân sự của Lục Nam luôn đạt 100% kế hoạch trở thành huyện dẫn đầu toàn tỉnh. Có 95,65 cơ sở đảng, 96,15 dân quân, 95,7% bộ đội phục viên và 97,2% thanh niên tham gia.

 Trong quá trình thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế, văn hóa, tổ chức Đảng và các đoàn thể quần chúng được củng cố và kiện toàn, vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên được thể hiện rõ qua các hoạt động cách mạng cụ thể. Sự lớn mạnh của tổ chức Đảng và chính quyền là cơ sở cho những thắng lợi trên các mặt kinh tế, xã hội của địa phương. Đó là tiền đề để địa phương bước vào một thời kỳ mới.

Lãnh đạo nhân dân thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ I                                 (1961 - 1965)

Tháng 9 - 1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã xác định đường lối chung của cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước; đề ra phương hướng nhiệm vụ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965). Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất với mục tiêu lấy xây dựng chủ nghĩa làm trọng tâm thực hiện một bước công nghiệp hóa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, đồng thời hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã soi đường cho cách mạng nước ta đi tới hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Do đặc điểm của địa phương, trong năm 1961, Đảng bộ Lục Nam tập trung vào công tác xây dựng Đảng, tiến hành củng cố hợp tác xã, chỉ đạo chống phỉ và khảo sát mọi mặt làm cơ sở xây dựng và thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.

Nhằm cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III, từ ngày 23 đến 25-2-1962, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Lục Nam lần thứ III được tổ chức. Tham dự Đại hội có 82 đại biểu chính thức, 5 đại biểu dự khuyết. Sau khi đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ II, Đại hội tổng kết công tác diệt phỉ, đề ra nhiệm vụ phát triển kinh tế -xã hội của trong những năm 1962 - 1965. Đại hội xác định phát triển nông nghiệp là nhiệm vụ hàng đầu, trọng tâm là giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm, mục tiêu trong những năm 1962 - 1965 là tiếp tục xây dựng và củng cố hợp tác xã, xây dựng lực lượng sản xuất mới ở nông thôn. Trên cơ sở đó, từng bước xây dựng công nghiệp, phát triển tiểu thủ công nghiệp địa phương, phát triển văn hóa, xã hội, nâng cao một bước đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Đại hội bầu Ban chấp hành Đảng bộ gồm 11 ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Xuân Tống tiếp tục được tín nhiệm bầu làm Bí thư, Nguyễn Trọng Quang được bầu lại làm Phó bí thư.

Để thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ I đạt kết quả cao, ngay sau Đại hội, Đảng bộ Lục Nam tổ chức học tập quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III, Nghị quyết Hội nghị ban chấp hành Trung ương lần thứ 5 về phát triển nông nghiệp.

Ở Lục Nam, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từng bước được xác lập. Trong quá trình cải tạo, xây dựng quan hệ sản xuất mới, cùng với những yếu tố tích cực, những lệch lạc và yếu kém trong công tác điều hành, quản lý cũng bộc lộ. Để khắc phục tình trạng yếu kém trong quan lý, vào đầu năm 1961, Huyện đã mở 5 lớp đào tạo cho các hợp tác xã nông nghiệp, nhờ đó cả huyện đã có 192/213 hợp tác xã xây dựng được kế hoạch phát triển kinh tế cả năm.

Bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ I, Huyện ủy chỉ đạo các cấp ủy chính quyền các xã tiến hành củng cố các hợp tác xã. Phương châm tiến hành là tăng cường công tác tư tưởng, giáo dục ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa, tinh thần làm chủ xây dựng hợp tác xã cho quần chúng xã viên. Đồng thời, các hợp tác xã tiến hành sửa chữa các khuyết điểm, yếu kém trong công tác quản lý, nhất là quản lý kinh tế, ăn chia. Thực hiện sự chỉ đạo của Huyện ủy, Đảng bộ, chính quyền các xã triển khai thực hiện chỉ thị của Trung ương về cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật trong các hợp tác xã. Trên cơ sở quán triệt cho từng cán bộ đảng viên thấu suốt chủ trương của Bộ Chính trị, kế hoạch chỉ đạo Tỉnh, của Huyện, các xã đã triển khai từng bước thận trọng và vững chắc. Đảng bộ xác định đây là dịp để cán bộ, đảng viên, xã viên tham gia xây dựng hợp tác xã, khắc phục yếu kém trong công tác quản lý, xây dựng phương hướng sản xuất theo hướng đẩy mạnh thâm canh, mở rộng các ngành nghề, tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hợp tác xã. Thực hiện chủ trương xây dựng hợp tác xã bậc cao, qui mô lớn, từ năm 1963, Huyện ủy chỉ đạo một số hợp tác xã quy mô hợp nhất thành hợp tác xã qui mô lớn, tổ chức lại sản xuất, tăng cường áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Nhiều hợp tác xã đã tích cực phát triển chăn nuôi, mở mang ngành nghề như lò gạch, lò vôi, làm đồ gỗ... để góp phần nâng cao đời sống xã viên, giải quyết việc làm và tăng nguồn thu của hợp tác xã.

Song song với công tác cải tiến quản lý, Đảng bộ Lục Nam lãnh đạo thực hiện công tác cải tiến kỹ thuật như kiến thiết đồng ruộng, khoanh bờ vùng, đắp bờ thửa, xây cống tiêu, nạo vét mương máng... Nhiều công trình được xây dựng như nhà kho, lán ủ và chế biến phân, nơi ngâm ủ giống... Các hợp tác xã tích cực thực hiện một số biện pháp kỹ thuật như làm phân xanh, ủ phân chuồng, cấy dày hợp lý, làm cỏ nhiều lần, ngâm giống ba sôi hai lạnh. Thực hiện giải phóng đôi vai người nông dân, các hợp tác xã đã sản xuất, mua sắm xe đạp thồ, xe cải tiến,... dùng để vận chuyển, phục vụ sản xuất. Nhờ đó, sản xuất nông nghiệp tiến bộ rõ rệt, đạt những thành tích bước đầu quan trọng. Năng suất và sản lượng lương thực tăng lên rõ rệt, đời sống xã viên giảm bớt khó khăn.

Thông qua các đại hội xã viên, đội ngũ cán bộ hợp tác xã được thanh lọc, những đảng viên có phẩm chất đạo đức, năng lực công tác được bầu giữ các chức vụ then chốt. Tính đến cuối năm 1964, toàn huyện có 248 hợp tác xã nông nghiệp, thu hút 13.438 hộ, bằng 97,23% tổng số nông dân, trong đó có 2 hợp tác xã quy mô trên 200 hộ, 5 hợp tác xã có từ 130-200 hộ và 24 hợp tác xã từ 100-149 hộ. Kết quả phân loại: 62 hợp tác xã đạt khá, 173 hợp tác xã trung bình, 7 hợp tác xã kém, 6 hợp tác xã nát.

Các ngành tiểu thủ công nghiệp, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa cũng được xác lập. Các hợp tác xã mua bán, tín dụng, mua chung bán chung, tiểu thủ công nghiệp lần lượt ra đời (HTX gạch ngói Nam Thắng, HTX mộc, HTX gia công mỹ sợi, HTX tre đan thị trấn Lục Nam, HTX cơ khí, may mặc, cắt tóc, khai thác đá cát sỏi và nhiều HTX gạch ngói thủ công). Các hợp tác xã mua bán, tín dụng phát triển, thu hút thêm xã viên, tăng nguồn vốn, mở rộng hoạt động phục vụ sản xuất và đời sống.

Bên cạnh những mặt thuận lợi, phong trào hợp tác hoá ở Lục Nam cũng còn nhiều tồn tại, yếu kém. Trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ bộc lộ yếu kém, một số không đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Cơ sở vật chất kỹ thuật của nhiều HTX còn nghèo nàn, thiếu vốn. Công tác tổ chức quản lý sản xuất và phân chia sản phẩm còn nhiều hạn chế, yếu kém, nhiều HTX không xây dựng được kế hoạch sản xuất, phương án phân  phối, các khoản thu chi thiếu rõ ràng minh bạch. Giá trị ngày công của xã viên giảm dần, đời sống của nhân dân ít được cải thiện. Việc đưa hợp tác xã lên quy mô lớn vào năm 1964 càng làm bộc lộ các yếu kém.

Chấp hành nghị quyết của Bộ Chính trị, Lục Nam đã tiến hành cải tiến quản lý hợp tác xã, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng cải tiến kỹ thuật nhằm phát triển nông nghiệp một cách toàn diện. Nhờ đó, tỷ lệ hợp tác xã kém nát được hạ thấp dần, sự đoàn kết ở nông thôn được củng cố, cơ sở vật chất cho các hợp tác xã được xây dựng.

Trong những năm thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, xây dựng cơ sở vật chất bước đầu cho CNXH, cán bộ, đảng viên, nhân dân Lục Nam sôi nổi hưởng ứng các phong trào thi đua: “thi đua với Đại Phong, kịp và vượt Đại Thắng”, “chiến dịch sản xuất Lập công dâng Đảng”, “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”. Trong phong trào thi đua đã xuất hiện những điển hình, những cá nhân có thành tích xuất sắc.

Công tác củng cố tổ chức Đảng được Huyện xác định là nhiệm vụ then chốt. Gắn với các đợt chỉnh huấn 4 quan điểm theo Chỉ thị của Bộ Chính trị cho cán bộ, đảng viên (1961), cuối năm 1962 đầu năm 1962, Đảng bộ mở cuộc vận động giáo dục lý luận chính trị cơ bản cho đảng viên nông thôn. Qua các đợt học tập này, đảng viên nhận thức rõ vai trò và nhiệm vụ của mình trong lãnh đạo sản xuất và quản lý hợp tác xã nông nghiệp. Tư tưởng bảo thủ, hữu khuynh, hoài nghi đường lối của Đảng bị phê phán nghiêm khắc. Tính tiền phong, gương mẫu ở mỗi đảng viên được nâng cao. Trong năm 1962, Đảng bộ đã phân công nhiều đảng viên có năng lực và phẩm chất đạo đức vào các ngành, nâng cao tỷ lệ đảng viên trong lực lượng dân quân du kích.

Công tác phát triển Đảng được các cấp ủy thường xuyên quan tâm. Đến cuối năm 1962, Đảng bộ có 1.006 đảng viên, thành phần bần cố nông chiếm 57,1%, trung nông chiếm 40,3%, các thành phần khác chiếm 2,65. Số đảng viên là phụ nữ chiếm 4%, người dân tộc thiểu số chiếm  6,2%, người theo đạo Thiên chúa chiếm 0,5%, đảng viên trẻ đang trong độ tuổi sinh hoạt Đoàn chiếm 10,2%. Về trình độ văn hoá, có 947 đảng viên học hết cấp 1, có 126 đồng chí học hết cấp 2 và 6 đồng chí học hết cấp 3. Về tuổi đời, từ 40 tuổi trở xuống chiếm 73%, từ 41-50 tuổi chiếm 16%. Có 855 đồng chí thuộc khu vực nông thôn và 151 đồng chí thuộc khu vực cơ quan.

Ngày 20-4-1963, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Lục Nam lần thứ IV được tổ chức. Tham dự Đại hội có 90 đại biểu chính thức, 7 đại biểu dự khuyết. Đại hội làm việc trong 6 ngày. Đại hội tập trung kiểm điểm sâu sắc việc kiện toàn công tác tổ chức, đề ra nhiệm vụ trung tâm là tăng cường công tác xây dựng Đảng, củng cố phong trào hợp tác nông nghiệp.

Đại hội bầu Ban chấp hành mới gồm 23 uỷ viên (21 chính thức, 2 dự khuyết). Đồng chí Nguyễn Xuân Tống tiếp tục được bầu làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Trọng Quang và Đỗ Văn Sử được bầu làm Phó Bí thư.

Sau Đại hội, Huyện ủy chỉ đạo đẩy mạnh các phong trào thi đua trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong phong trào thi đua thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, phấn đấu “Thi đua với Đại Phong, kịp và vượt Đại Thắng”, cán bộ, đảng viên, nhân dân Lục Nam hưởng ứng nhiệt tình. Các hợp tác xã thi đua đẩy mạnh sản xuất, đạt năng suất cao, các em học sinh thi đua giành điểm cao trong học tập; hội phụ lão thi đua giữ đẹp hàng cây... Các chiến dịch trồng cây do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các xã phát động được nhân dân hưởng ứng nhiệt tình. Nhà dân trồng tre, nhãn, cây xanh ở các trục đường, trong xóm, ngoài đồng, góp phần che chắn gió bão, tạo cảnh quan đẹp, tăng kinh phí cho cơ sở. Các phong trào thi đua này thực sự đem lại hiệu quả về kinh tế, văn hoá, xã hội, củng cố mối quan hệ sản xuất mới, làm tốt công tác an ninh quốc phòng. Qua đó, sức mạnh của tập thể được phát huy, đời sống nhân dân có bước phát triển, mua sắm thêm đồ dùng gia đình, phần tích lũy của tập thể và đóng góp cho Nhà nước ngày càng tăng.

Cùng với đà phát triển kinh tế, các mặt hoạt động văn hóa, xã hội cũng có bước tiến mới. Hệ thống các trường phổ thống cấp I, cấp II được mở rộng, phát triển đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Các lớp bổ túc văn hóa được mở ở các xã để nâng cao trình độ văn hóa của cán bộ, thanh niên. Phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao phát triển mạnh mẽ. Phong trào vệ sinh phòng bệnh được đẩy mạnh. Các hợp tác xã hỗ trợ giúp nhân dân đào giếng, xây hố xí 2 ngăn, xây nhà tắm ở từng gia đình, trẻ em được tiêm phòng bệnh…

Phong trào dân quân tự vệ được đẩy mạnh và có bước phát triển mới cả về số lượng, huấn luyện và trang bị. Đảng bộ tuyên truyền, vận động thực hiện nghiêm túc Luật nghĩa vụ quân sự. Hàng năm, Huyện đã tổ chức tiễn đưa hàng chục thanh niên con em lên đường bảo vệ Tổ quốc. Lực lượng dân quân tự vệ cấp huyện và xã được xây dựng ngày càng mạnh. Đảng bộ đặc biệt quan tâm, vận động nhân dân chăm sóc, giúp đỡ những gia đình liệt sĩ, thương binh, quân nhân ở chiến trường xa. Công tác bảo vệ trị an, phòng chống gián điệp biệt kích được đẩy mạnh với ý thức đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu. Từ tháng 8 - 1964, khi đế quốc Mỹ gây ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc thì nhiệm vụ quân sự địa phương, xây dựng lực lượng, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, tổ chức phòng không... càng được tăng cường.

Cùng với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, Huyện uỷ chỉ đạo Đảng bộ các xã thường xuyên củng cố, xây dựng các đoàn thể quần chúng, chính quyền. Đảng bộ lãnh đạo thành công cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân huyện, xã. Sau bầu cử Hội đồng nhân dân, chính quyền huyện đã củng cố, kiện toàn một bước về bộ máy, tổ chức.

Công tác xây dựng Đảng được đẩy mạnh. Trước hết là làm tốt công tác củng cố, kiện toàn tổ chức Đảng, phát triển đảng viên… Đảng bộ không ngừng lớn mạnh về nhiều mặt, ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức và quản lý kinh tế xã hội của cán bộ, đảng viên từng bước được nâng lên. Năm 1964, Đảng bộ tiến hành cuộc vận động xây dựng chi bộ 4 tốt, đảng viên 4 tốt. Công tác phát triển Đảng được coi trọng. Năm 1963, Đảng bộ có 1.249 đảng viên, chiếm 1,9% dân số toàn Huyện. Năm 1964, kết nạp thêm 74 đảng viên, nâng tổng số lên 1.387 đồng chí.

Ngày 10-10-1964, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ V được tổ chức. Đại hội đánh giá hai năm hoạt động, nêu ra những thuận lợi, khó khăn và những kết quả hoạt động của Huyện, đồng thời đề ra phương hướng cho nhiệm kỳ tới. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ Khóa V gồm 18 uỷ viên (1 uỷ viên dự khuyết). Đại hội lần thứ V của Đảng bộ huyện Lục Nam đánh dấu mốc mới trong lịch sử phát triển: Lục Nam vừa sản xuất vừa chiến đấu bảo vệ quê hương, góp phần chi viện cho cách mạng miền Nam.

Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ V, toàn huyện đẩy mạnh các phong trào thi đua phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng. Việc áp dụng các biện pháp thâm canh, tăng năng suất lúa và cây trồng, đưa các giống mới vào sản xuất trở thành cuộc cách mạng sâu rộng trong nông nghiệp. Các giống lúa ngắn ngày, cho năng suất cao như Trân Châu lùn, Nông nghiệp 8,  IR 203 ... được đưa vào thay thế các giống lúa cũ, dài ngày, năng suất thấp, từ đó đã mở ra việc cải tạo cơ cấu cây trồng, cải tạo mùa vụ. Từ 2 vụ/năm do thay đổi giống cây trồng đã trở tăng lên 3 vụ/năm, ngoài 2 vụ chiêm – mùa và không ngừng mở rộng diện tích sản xuất vụ Đông, việc xen canh gối vụ, có thêm vụ Hè - Thu. Phong trào làm phân bón được đẩy mạnh. Phòng nông nghiệp Huyện còn chú trọng đẩy mạnh phong trào hướng dẫn làm phân xanh như bèo hoa dâu, điền thanh, muồng muồng. Nòng cốt trong phong trào này do Đoàn thanh niên và Hội phụ nữ trực tiếp đảm nhiệm. Phong trào ủ, chế biến phân chuồng được phát động rộng rãi. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng quan tâm đầu tư nguồn phân vô cơ đạm - lân - kali, nên đã tạo nên sức bật về năng suất cây trồng. Diện tích gieo trồng đến năm 1965 tăng 31,8% so với năm 1961. Năng suất cây trồng ổn định, năm 1965 đạt 26.940 tấn, tăng 25,27% so với năm 1961, trong đó, thóc đạt 22.482 tấn.

Công tác thuỷ lợi được coi là biện pháp mũi nhọn. Năm 1961, Huyện tập trung hoàn thành 3 công trình thuỷ lợi lớn là Khe Cát, Khe Ráy và Hố Chùa. Trong 6 tháng đầu năm 1961, Huyện đã huy động 460.231 ngày công lao động để hoàn thành 3 công trình này với 467.725m3 đất đá. Ngày 25-1-1961, Huyện chính thức khởi công đắp đê Thống Nhất. Thời gian đầu, do đê đắp nhỏ, thấp nên đến tháng 8-1965 bị vỡ hai đoạn ở Tiên Hưng, Khám Lạng. Bên cạnh đó, Huyện huy động nhân dân tham gia đắp đường 17, được hơn 50.000m3 đất. Tổ chức lực lượng dân công đắp đê Ba tổng (Yên Dũng) được 2.444m3.

Công tác chăn nuôi được chú ý. Huyện đã tổ chức hỗ trợ nhiều gia đình khó khăn, thiếu giống. Các cơ sở chăn nuôi tập thể ra đời và đi vào hoạt động, song vì sản lượng lương thực chưa đáp ứng nhu cầu, thức ăn cho gia súc bị thiếu và không ổn định, nên mặc dù có nhiều cố gắng nhưng ngành chăn nuôi vẫn chậm phát triển. Năm 1963, đàn lợn tăng 155%, đàn bò tăng 0,35%, đàn trâu giảm 12% so với năm 1962. Năm 1964, đàn trâu tăng 3,45%, đàn bò tăng 15% nhưng đàn lợn chỉ đạt 71,1%. Năm 1963, cả huyện có 25 trại chăn nuôi tập thể, năm 1964 còn 23 cơ sở.

Lâm nghiệp là một thế mạnh của Lục Nam. Diện tích đồi rừng chiếm 67% diện tích của toàn huyện. Trong đó, 27.759 ha rừng có thể khai thác mang lại nguồn lợi kinh tế lớn, 17.200 ha đồi trọc có thể thu hút tạo việc làm cho nhiều lao động phát triển kinh tế lâu dài. Đây là một thuận lợi lớn cho việc phát triển kinh tế lâm nghiệp của Huyện. Trước năm 1960, do nhiều nguyên nhân cả chủ quan và khách quan, Huyện chưa chú ý phát triển kinh tế lâm nghiệp, việc tổ chức trồng cây gây rừng, bảo vệ rừng đạt hiệu quả chưa cao. Từ năm 1961 đến 1964, phong trào trồng cây rừng có bước phát triển đáng kể. Sáu tháng đầu năm 1961, toàn huyện trồng được 96.780 cây lấy gỗ, 18.080 cây ăn quả, 6.500 cây công nghiệp, 5.118 bụi tre, đạt 92,65 kế hoạch. Năm 1963, xã Cương Sơn lập một đội trồng cây chuyên trách gồm 10 người. Năm 1964, cả huyện có 10 đội trồng cây chuyên trách gồm 65 người. Lực lượng chủ yếu là các cụ phụ lão. Trong hai năm 1963-1964, các địa phương còn lập được 24 tổ bảo vệ rừng với 114 người. Việc khai thác lâm sản hàng năm tăng và đạt kế hoạch đề ra. Giá trị ngày công lao động lâm nghiệp cao hơn giá trị ngày công lao động lâm nghiệp, tạo cho người dân niềm tin tưởng và sự phấn khởi, hăng hái lao động, làm giàu cho gia đình và quê hương.

Những năm 60 của thế kỷ XX, tài nguyên rừng của Lục Nam hết sức phong phú với rừng tự nhiên trải khắp sơn phận các xã Lục Sơn, Trường Sơn, Vô Tranh, Nghĩa Phương, Huyền Sơn và Đông Hưng, trong đó rừng ở các khu vực Nghĩa Phương, Lục Sơn được đánh giá trữ lượng thuộc loại rừng giàu. Ngoài loại cây cho hạt như giẻ còn có nhiều loại cây cho sợi (bồ đề, ngô đồng, sung, sưu, gạo, tổ kén); lấy nhựa (trám, thông), chất ta-nanh (lim, củ nâu), dầu nhờn (dọc, sở, trương, mật), dầu thơm (màng tang, giã hương, long não), dầu mỡ (dung sữa, lai, đại hái), nguyên liệu (trúc, sặt, dó, dùng) và dược liệu quý (ba kích, bách bộ, cốt toái, hà thủ ô, phòng đẳng sâm, sa nhân, thổ phục linh, kim ngân)...

Năm 1960, Công trường khai thác gỗ Nước Vàng (Mai Sưu) được thành lập với nhiệm vụ quản lý trên 1.000 ha rừng, mỗi năm khai thác 500-700m3 gỗ, tu bổ 200-300 ha rừng. Trên cơ sở Công trường khai thác gỗ Nước Vàng, Lâm trường Mai Sơn được thành lập. Lâm trường có nhiệm vụ tu bổ, khai thác và trồng rừng. Lâm trường được quản lý gần 2.000 ha rừng, trong đó chủ yếu là rừng giàu trung bình, rừng kiện, rừng non, rừng tái sinh phục hồi, rừng phòng hộ và vài trăm ha rừng tre nứa. Tuy cơ sở vật chất còn nghèo nàn, giao thông còn khó khăn, công nhân chủ yếu là nữ ở vùng xuôi mới lên, nhưng trong nhiều năm, lâm trường vẫn phấn đấu vượt mức kế hoạch về khai thác gỗ tròn, củi tre, giàng, nứa, than và tu bổ rừng, trồng rừng. Lâm trường Mai Sơn được Thủ tướng Chính phủ khen ngợi và tặng thưởng nhiều bằng khen.

Thủ công nghiệp của Huyện có quy mô tương đối lớn. Tiêu biểu là Xí nghiệp vôi ngói Cẩm Bằng. Năm 1960, Ty Công thương Bắc Giang quyết định xây dựng Xí nghiệp cang gốm Cẩm Lý, đặt tại chân đồi Cẩm Lý nhằm khai thác 3 thế mạnh tại chỗ: nguyên liệu (đất, cỏ tranh), nhân lực và thị trường tiêu thụ. Trong hai năm 1961-1962, xí nghiệp đã cử người đi Móng Cái học cách xây lò rồng, đem đất khai thác tại chỗ đưa về Thổ Hà làm thử, chất lượng đảm bảo[20]. Sau 2 năm sản xuất, chất lượng sản phẩm đạt yêu cầu, nhưng do nguồn nguyên liệu gốm cạn kiệt nên đã giảm sút chất lượng. Năm 1965, xí nghiệp chuyển sang làm ngói, sản lượng lúc đầu đạt 350.000 viên/năm, sau đó sản lượng ngày một tăng, đạt mức 1 triệu viên/năm. Ngói Cẩm Lý đã đóng góp một phần quan trọng trong sự nghiệp ngói hoá ở địa phương và toàn tỉnh Bắc Giang. Đến năm `1972, Xí nghiệp cang gốm Cẩm Lý sáp nhập với Xí nghiệp Vôi Bằng Lương (Yên Dũng), lấy tên là Xí nghiệp Vôi ngói Cẩm Bằng.

Trong những năm 1958-1964, công tác giáo dục được coi trọng. Công tác bình dân học vụ đã đạt vượt mức chỉ tiêu đề ra, hoàn thành tốt công tác xoá nạn mù chữ. Để phát huy những kết quả đạt được, khắc phục triệt để tình trạng mù chữ trở lại, huyện đã đẩy mạnh phong trào bổ túc văn hoá. Trong năm 1961, có thêm 6.937 người biết chữ. Cuối năm 1963, đầu năm 1964 có tới 3.945 người theo học bổ túc văn hoá. Xã Cương Sơn là đơn vị lá cờ đầu về bổ túc văn hoá. Số lượng học sinh cấp I tăng nhanh hàng năm. Năm học 1963-1964, toàn huyện có 26 trường phổ thông cấp 1 với 176 lớp và 6.957 học sinh, 2 trường phổ thông cấp 2 với 845 học sinh và 4 trường phổ thông nông nghiệp gồm 9 lớp với 231 học sinh.

Công tác giáo dục mầm non được cấp uỷ, chính quyền và các ngành đoàn thể hết sức quan tâm, ở các thôn đều xây dựng nhà trẻ, lớp vỡ lòng giúp cho cha mẹ các cháu yên tâm lao động sản xuất. Đến năm 1964, hệ mẫu giáo, vỡ lòng của huyện có 136 lớp, thu hút 4.310 cháu. Trong suốt thời kỳ chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, các nhà trẻ, mẫu giáo vẫn hoạt động thường xuyên.

Đến giữa năm 1961, 22 xã có cán bộ phụ trách công tác văn hoá thông tin. Toàn huyện có 59 đội văn nghệ nghiệp dư, thu hút 1.237 người tham gia. Đội văn nghệ Phương Sơn, Đan Hội, thị trấn Lục Nam hoạt động thành nề nếp. Ngành văn hoá thông tin đã tổ chức được nhiều buổi tuyên truyền, cổ động để phục vụ các nhiệm vụ chính trị ở địa phương.

Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, được cấp uỷ, chính quyền ngày càng quan tâm. Huyện đã thành lập được mạng lưới y tế rộng khắp các xã, Trạm y tế được tăng cường trang thiết bị, thuốc chữa bệnh, bổ sung thêm y tá, y sĩ. Công tác khám bệnh ngày càng được nâng cao về chất lượng và thái độ phục vụ, đảm bảo chữa trị kịp thời, hiệu quả các bệnh thông thường cho nhân dân. Trong 6 tháng đầu năm 1961, ngành y tế huyện đã tổ chức tiêm phòng lao cho 30.470 người, vận động nhân dân đào 3.152 giếng nước, đưa hàng trăm chuồng trâu bò ra xa nhà và xây hàng ngăn nhà vệ sinh hợp quy cách. Đến cuối năm 1964, 100% số xã có trạm y tế. Cả huyện có 12 y sĩ, 76 y tá, 66 hộ sinh viên. Bệnh viện huyện đã có 100 giường bệnh.

 Tháng 6-1964, Bộ Chính trị ra Chỉ thị về tăng cường công tác phòng chống chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc của đế quốc Mỹ. Thực hiện Chỉ thị, Đảng bộ tập trung lãnh đạo tăng cường, củng cố lực lượng dân quân, công an xã. Không chùn bước trước sức mạnh quân sự của Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân Lục Nam ra sức phấn đấu vượt qua khó khăn, thử thách, đẩy mạnh sản xuất. Khẩu hiệu “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” luôn được giữ vững, hoàn thành nghĩa vụ đóng góp lương thực, thực phẩm cho Nhà nước, với mức đóng góp luôn dẫn đầu huyện. Cùng với lực lượng dân quân, lực lượng công an huyện phối hợp với các xã hoạt động tích cực bảo vệ trật tự trị an, bảo mật, phòng gian, phòng chống gián điệp biệt kích.

Trên địa bàn, Mỹ - ngụy đã tung nhiều đợt máy bay do thám, thả truyền đơn, tung gián điệp, biệt kích vào địa phương. Đêm 4-6-1963, chúng thả một toán biệt kích xuống vùng núi Yên Tử giáp ranh giữa Sơn Động - Lục Nam. Lợi dùng tình hình bọn phỉ cũ, bọn phản cách mạng hoạt động ngày càng trắng trợn. Kịp thời nắm bắt và xử lý tình hình, Công an Lục Nam đã nhanh chóng xây dựng phương án tác chiến, tổ chức phân vùng và phân loại loại địa bàn, đối tượng ngày đêm bám sát mục tiêu. Nhiều phần tử nghi vấn đã bị thanh lọc ra khỏi cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp từ huyện đến xã. Từ năm 1964, công an huyện còn tham mưu, hướng dẫn các ngành, các cấp tổ chức tốt công tác phòng không nhân dân, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Lực lượng công an xã ngày càng được củng cố. Kết quả phân loại công tác an ninh của Lục Nam năm 1964:

 

Loại

Hạng mục

Khá

Trung bình

Kém

Chất lượng công an cơ sở (xóm)

105

99

64

Phong trào bảo vệ an ninh trật tự (xã)

11

14

1

 

Công tác quân sự địa phương, nhất là việc xây dựng lực lượng dân quân du kích được đẩy mạnh. Huyện đội đã mở nhiều lớp ngắn hạn bồi dưỡng đội ngũ xã đội, thôn đội; liên tục cử cán bộ xuống cơ sở giúp huấn luyện kỹ, chiến thuật. Huyện đội đặc biệt chú trọng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ cơ sở, trong hai năm 1963-1964, đào tạo được 24 xã đội trưởng ở tỉnh, 325 cán bộ xã đội ở huyện. Công tác huấn luyện quân sự đạt chất lượng cao. Cuộc vận động xây dựng xã đội, đại đội, trung đội, tiểu đội tiên tiến, quyết thắng đạt kết quả khá. Cả huyện có 48 trung đội được mang tên Trung đội Đề Thám, 384 cá nhân tiên tiến, 10 xã đội tiên tiến.

Dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng ngày càng trưởng thành. Với cơ cấu Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân hành chính hoạt động từ giữa năm 1961, các cấp chính quyền đã dần dần đi vào nền nếp. Thực hiện chủ trương của tỉnh, Lục Nam đã chọn xã Thanh Sơn (nay là Thanh Lâm) làm điểm về tiến hành tinh giản biên chế, cải cách bộ máy hành chính, nâng cao hiệu lực và hiệu quả công tác. Qua 4 đợt tổ chức thực hiện, huyện đã giảm được 228 cán bộ để tăng cường về lãnh đạo các hợp tác xã nông nghiệp. Uỷ ban hành chính các xã đã đủ năng lực xây dựng đề án công tác, phân công phân nhiệm cho từng cán bộ rõ ràng, cụ thể hơn, lề lối làm việc có nhiều tiến bộ.

Trong kế hoạch 10 năm phát triển kinh tế, văn hoá, qua mỗi nhiệm kỳ, Đảng bộ đều tổ chức kiểm điểm kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo phong trào. Đồng thời xác định hướng đi cho nhiệm kỳ tiếp theo. Các nghị quyết của Đảng bộ được xây dựng trên cơ sở bám sát nhiệm vụ trọng tâm của xã  trong từng thời kỳ. Các đợt chỉnh huấn, học tập chính trị đều được Đảng bộ quan tâm, tổ chức thực hiện chu đáo, nhờ đó sự giác ngộ cách mạng của đội ngũ cán bộ đảng viên dần dần được nâng cao, vai trò tiên phong gương mẫu được phát huy. Đa số các đồng chí cán bộ chủ chốt nhiệt tình, lăn lộn với phong trào, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ. Từ phong trào cách mạng trong thực tiễn do Đảng bộ lãnh đạo, nhiều quần chúng được vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng. Đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong thời kỳ mới.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, các đoàn thể quần chúng ở Lục Nam trong 10 năm (1954-1965) đã phát triển mạnh mẽ, hoạt động có hiệu quả, góp phần quan trọng vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Đoàn thanh niên đã phát huy được vai trò xung kích sáng tạo trong xây dựng hợp tác xã, thi đua lao động sản xuất, xây dựng đời sống mới; đảm nhiệm vai trò xung kích trong công tác. Thanh niên luôn là nòng cốt trong các đội thuỷ lợi chuyên trách, gương mẫu đi đầu, tìm tòi các biện pháp cải tiến kỹ thuật canh tác, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào chăn nuôi, trồng trọt. Hoạt động sôi nổi trong phong trào cách mạng của địa phương, được sự lãnh đạo, quan tâm động viên của chi bộ, thanh niên trong xã sẵn sàng lên đường nhập ngũ vì miền Nam ruột thịt. Mặt trận Tổ quốc xã, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ ngày càng được củng cố, kết nạp thêm nhiều hội viên mới, góp phần thực hiện thắng lợi chính sách hậu phương quân đội, đẩy mạnh thi đua lao động sản xuất.

Thực hiện những chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và Chính phủ, cán bộ, đảng viên và nhân dân Lục Nam đã đạt những thành tích bước đầu trong công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, tiến hành hợp tác hóa, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ I. Cơ sở vật chất kỹ thuật của Huyện bước đầu được xây dựng và phát triển. Đảng bộ trưởng thành về nhiều mặt, cấp uỷ, chính quyền các xã, các đoàn thể quần chúng ngày càng được củng cố và tăng cường. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên một bước. An ninh trật tự và quốc phòng vững mạnh, đảm bảo sẵn sàng chiến đấu. Đây là những tiền đề quan trọng để Đảng bộ và nhân dân trong xã vững vàng bước vào thời kỳ vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.

 

 

Chương V

GIỮ VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG HOÀN CẢNH CÓ CHIẾN TRANH THAM GIA CHIẾN ĐẤU THẮNG LỢI (1965-1972)

 

1. Chuyển hướng xây dựng và phát triển kinh tế; góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1965-1968)

Từ cuối năm 1964, đầu năm 1965, bị thất bại nặng nề ở miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh chuyển sang thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”, dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc và gia tăng các hoạt động quân sự nhằm cắt đứt mọi sự chi viện của miền Bắc xã hội chủ nghĩa cho cách mạng miền Nam, làm nhụt tinh thần kháng chiến của quân và dân ta. Cuộc kháng chiến của dân tộc ta bước sang thời kỳ mới-thời kỳ cả nước trực tiếp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Trước tình hình diễn biến phức tạp, Đảng ta đã tỉnh táo và kiên định lãnh đạo toàn quân, toàn dân ta thực hiện chuyển hướng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong năm 1965, Trung ương Đảng có 2 cuộc hội nghị quan trọng để bàn định nhiệm vụ cách mạng miền Bắc và cả nước trong giai đoạn mới. Hội nghị lần thứ 11 (3-1965) và lần thứ 12 (12-1965) đã nêu rõ nhiệm vụ của miền Bắc trong thời kỳ mới là:

- Bảo vệ miền Bắc, đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đồng thời chuẩn bị đánh thắng chúng, nếu chúng mở rộng chiến tranh cục bộ ra cả nước;

- Động viên sức người sức của tăng cường chi viện cho miền Nam;

- Ra sức xây dựng miền Bắc vững mạnh về kinh tế và quốc phòng;

- Tăng cường công tác tư tưởng và công tác tổ chức của Đảng. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh ngoại giao, tích cực tranh thủ sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta, v.v

Trung ương Đảng chỉ thị cho toàn Đảng, toàn quân toàn dân tổ chức tốt công tác phòng không, tăng cường huấn luyện quân sự, nêu cao cảnh giác cách mạng, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, đánh bại mọi bước leo thang nguy hiểm và liều lĩnh của đế quốc Mỹ. Quán triệt nghị quyết của Đảng, các địa phương nhanh chóng chuyển toàn bộ hoạt động từ thời bình sang thời chiến, tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội trong điều kiện chiến tranh; nêu cao quyết tâm đánh thắng chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, ra sức chi viện cho cách mạng miền Nam.

Ngày 27-3-1965, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Bắc ra Chỉ thị về công tác động viên thời chiến. Tiếp đó, ngày 10-4-1965, Tỉnh ủy ra Nghị quyết về công tác phòng không nhân dân. Tháng 8-1965, Tỉnh ủy Hà Bắc ra Nghị quyết chỉ rõ: “trong bất kỳ tình huống nào cũng phải giữ vững và phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp địa phương và đẩy mạnh nghề rừng,…củng cố thật vững chắc mặt trận sản xuất tập thể,…”.

Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy, trong năm 1965, Đảng bộ huyện đã mở đợt chỉnh huấn chính trị sâu rộng cho tất cả cán bộ, đảng viên để tạo sự thống nhất về chính trị, tư tưởng trong toàn Đảng bộ trước tình hình, nhiệm vụ mới của cách mạng nước ta. Dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Bắc, Đảng bộ huyện Lục Nam đã có những cuộc họp chuyên đề bàn về vấn đề phòng không sơ tán và nêu cao tinh thần quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Do tỉnh Hà Bắc nằm trong vùng trọng điểm đánh phá của địch, nên huyện Lục Nam cũng sớm phải đương đầu với cường độ đánh phá ngày càng ác liệt của máy bay Mỹ. Ngày 18-10-1965, máy bay Mỹ bắn phá xã Bảo Đài. Từ đây Đảng bộ và nhân dân Lục Nam bắt đầu thời kỳ trực tiếp chiến đấu với kẻ thù. Ngay sau sự kiện trên, Đảng bộ huyện đã lãnh đạo phát động tháng thi đua lao động sản xuất và sẵn sàng chiến đấu trả thù cho nhân dân Bảo Đài. Nhiều trận địa phòng không được khẩn trương xây dựng cùng với hệ thống và trạm báo động ra đời ở nhiều nơi. Lực lượng dân quân tự vệ được củng cố và phát triển rộng khắp. Nhiều tổ dân quân tự vệ trực chiến bắn máy bay được thành lập.

Tiếp tục nêu cao khẩu hiệu thể hiện sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong toàn Đảng toàn dân “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, từ đầu năm 1965, toàn miền Bắc dấy lên phong trào thi đua “mỗi  người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”.

Tháng 2-1965, Trung ương Đoàn phát động phong trào “Ba sẵn sàng” trong thanh niên toàn miền Bắc. Phong trào lôi cuốn đông đảo thanh niên sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu dũng cảm và sẵn sàng vào bộ đội, sẵn sàng khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, học tập trong bất kỳ tình huống nào, sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc.

Trong chiến tranh, phụ nữ Lục Nam đóng vai trò quan trọng ở hậu phương, khi phần lớn trai tráng khỏe mạnh của địa phương đã lên đường chiến đấu. Từ ngày 19-3-1965, phụ nữ huyện Lục Nam đã tích cực hưởng ứng phong trào “Ba đảm đang” do Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam phát động trong toàn phụ nữ miền Bắc: đảm đang sản xuất và công tác thay thế chồng con đi chiến đấu; đảm đang việc gia đình cho chồng con, anh em yên tâm chiến đấu, khuyến khích chồng con, anh em tòng quân và phục vụ lâu dài trong quân đội; đảm đang phục vụ chiến đấu, tham gia dân quân tự vệ, luyện tập quân sự sẵn sàng chiến đấu, phục vụ lực lượng vũ trang.

Đội ngũ công nhân trong các xí nghiệp, lâm trường tiếp tục bám máy, bám công xưởng, công trường với khẩu hiệu “Tay búa, tay súng”. Nông dân trong các hợp tác xã nông nghiệp trên toàn huyện thực hiện khẩu hiệu “tay cày, tay súng”, đẩy mạnh sản xuất ngay trong điều kiện chiến tranh ác liệt.

 Từ đây nhiệm vụ vừa sản xuất vừa chiến đấu của địa phương càng nặng nề, phức tạp hơn, đòi hỏi các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ngành phải trực tiếp đi sâu vào việc tổ chức xây dựng lực lượng võ trang và bán võ trang, xây dựng và củng cố hậu phương đi đôi với việc xây dựng kinh tế và văn hoá.

Đứng trước tình hình có những chuyển biến lớn, Đảng bộ Lục Nam đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo nhiệm vụ cho phù hợp với tình hình đất nước và yêu cầu của cách mạng.

Dưới làn bom đạn ác liệt của địch, nông dân vẫn bám chặt đồng ruộng, giữ vững sản xuất. Các địa phương đều phát triển mạnh phong trào làm thủy lợi nội đồng; thực hiện cơ cấu kinh tế lúa-lang-lạc-lợn; đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất,…

Trong những năm chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, nông nghiệp của Lục Nam phải vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thiên tai và địch họa. Trong chiến tranh, hàng ngàn lao động trẻ khỏe, trai tráng của quê hương Lục Nam đã rút khỏi mặt trận sản xuất nông nghiệp, từ giã làng mạc quê hương lên đường chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên cả hai miền Nam-Bắc. Trong tình hình khó khăn đó, nhưng sản xuất nông nghiệp của địa phương vẫn được đảm bảo và giữ vững.

Trong tình hình mới, những yêu cầu về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và nông dân trước đây không thay đổi, nhưng được đặt ra với tinh thần khẩn trương và với những yêu cầu cao hơn. Trước hết, sản xuất nông nghiệp của huyện không những phải đảm bảo sản xuất đủ lương thực thực phẩm cho nhu cầu tại chỗ, mà còn phải có dự trữ, làm nghĩa vụ với Nhà nước và chi viện cho tiền tuyến. Bởi vậy xã viên các hợp tác xã đã ra sức đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật; ra sức áp dụng mọi biện pháp thâm canh tăng năng suất. Phong trào quần chúng làm thủy lợi, đẩy mạnh chăn nuôi, mở rộng phong trào làm phân xanh, trồng cây xanh, cải tạo đất, cải tiến nông cụ, nhất là công cụ vận chuyển; phong trào chọn giống, cải tạo giống cây trồng, phát triển các hình thức chăn nuôi tập thể thích ứng với khả năng quản lý của hợp tác xã.

 Phong trào hợp tác hóa phát triển theo hướng tích cực. Các cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác xã, xây dựng chi bộ 4 tốt, xây dựng tổ chức Đoàn thanh niên và đoàn viên 4 tốt có tác dụng thúc đẩy phong trào hợp tác hóa ở Lục Nam. Trong hai năm 1965-1966, huyện mở nhiều lớp bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn cho trên 3000 lượt đội trưởng các đội sản xuất của hợp tác xã; chỉ đạo mở rộng quy mô hợp tác xã. Các đợt vận động cải tiến quản lý hợp tác xã được tiến hành thường xuyên.

Công tác thủy lợi được quan tâm và thu nhiều kết quả. Năm 1965 huyện có 95 đội thủy lợi chuyên trách, đào đắp được 775,290 m3. Năm 1966 tuy chỉ còn 70 đội nhưng có tới 1539 đội viên, hơn năm trước 186 người, đào đắp được 163.618 m3. Năm 1967, khối lượng đào đắp tăng lên 1.963,643 m3, gấp hơn 2 lần so với năm 1965 và hơn 10 lần so với năm 1966. Năm 1968, huyện huy động trên 4 vạn ngày công để bồi đắp, bảo vệ tuyến đê Thống Nhất.

Việc áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp bước đầu được coi trọng; năm 1965, đã có 705 hợp tác xã đã thành lập được tổ khoa học - kỹ thuật. Năm 1968 toàn huyện đã đưa được 50% cơ cấu giống mới có năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn ngày vào sản xuất, 60% diện tích lúa được cấy đúng kỹ thuật.

Do ảnh hưởng của chiến tranh, thiên tai liên tiếp và công tác tổ chức quản lý sản xuất nông nghiệp của các hợp tác xã còn có những bất cập, yếu kém, nên sản lượng lương thực của Lục Nam những năm 1965-1968 không ổn định. Năm 1965 diện tích trồng trọt đạt 99,7% nhưng tổng sản lượng lương thực chỉ đạt 30.145 tấn, bằng 78,5% kế hoạch. Năm 1966 diện tích gieo trồng đạt 96,5%, nhưng tổng sản lượng lúa giảm còn 23.458 tấn, bằng 77,7% kế hoạch. Nhưng trong năm 1967, dù bị hạn nặng, nhiều sâu bệnh phá hoại, máy bay Mỹ đánh phá khốc liệt, diện tích gieo trồng chỉ đạt 86%, nhưng tổng sản lượng đạt 38.257,31 tấn, xuất hiện nhiều hợp tác xã điển hình trong sản xuất lương thực như Thép Thượng, Vũ Xá, Vinh Quang, Mai Sơn, Chiến Thắng, Phương Lạn. Năm 1968 diện tích trồng trọt giảm nhiều nhưng năng suất lúa tăng 32,1% nên đã đưa tổng sản lượng cao hơn năm trước 18,5%.

Ngành lâm nghiệp trong hai năm 1965-1966 đã trồng được 1.351.370 cây các loại, khoanh nuôi rừng được 3844 ha, lập 64 đội trồng cây gây rừng bao gồm 33 người. năm 1965 khai thác được 7047 m3 gỗ tròn, 11.689 ste củi, 140 tấn than gỗ. Năm 1967 việc khoanh nuôi rừng đạt kết quả tốt, có 1.200 ha rừng được bảo vệ, 1223,6 ha đồi được phủ xanh, trong đó Chu Điện là lá cờ đầu của huyện trong trồng và bảo vệ rừng.

Năm 1968 đã có 80% hợp tác xã nông nghiệp đi vào kinh doanh nghề rừng, phong trào phủ xanh đồi trọc hoàn thành ở các xã Bảo Sơn, Chu Điện, Phương Sơn, An Mẫu. Cả huyện đã trồng được 3095 ha. Các hợp tác xã Hổ Lao (Lục Sơn), Văn Sơn (Lục Sơn) và Mai Sưu đã đạt tới 34% giá trị thu nhập bằng nghề rừng. Ngày công lâm nghiệp cao hơn ngày công nông nghiệp từ 5-10 lần. Hầu hết các hợp tác xã đều đầu tư và có phương hướng kinh doanh lâm nghiệp; song còn ở mức thấp và mới chỉ đạt 3,26% kế hoạch đề ra. Hạn chế và khó khăn lớn nhất trong phát triển kinh tế lâm nghiệp thời gian này là tệ khai thác bừa bãi, đốt phá rừng diễn ra nghiêm trọng. Việc chăm sóc và bảo vệ diện tích các đồi cây mới trồng thiếu kế hoạch chu đáo.

Các cơ sở sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp cũng chịu ảnh hưởng bởi chiến tranh. Hầu hết các hợp tác xã đã lập những tổ rèn, cơ khí nhỏ, xây dựng lò gạch ngói phục vụ sản xuất, sinh hoạt của nhân dân. Ngành thương nghiệp, vật tư nông nghiệp đã có nhiều cố gắng trong khai thác nguồn hàng phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân; tổ chức đưa hàng về tận thôn bản phục vụ nhân dân, bộ đội; các hoạt động dịch vụ hướng vào đáp ứng những nhu cầu mới của cuộc chiến đấu và phát triển kinh tế-xã hội địa phương.

Để đổi mới và nâng cao hiệu quả lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng bộ trên mọi lĩnh vực, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, nhằm nâng cao nhận thức, huyện uỷ đã mở cuộc chỉnh huấn mùa xuân 1965 thu hút 98% đảng viên học tập. Các cấp uỷ đảng từ huyện đến cơ sở đã tổ chức nhiều đợt tuyên truyền giáo dục, phổ biến các chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước tới cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện. Đảng bộ huyện Lục Nam thực hiện việc phân công nhiệm vụ cho cán bộ, đảng viên: hầu hết chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, đội trưởng sản xuất, cán bộ xã đội, công an xã là cấp ủy viên, là đảng viên.

Công tác phát triển đảng hết sức được coi trọng: Nếu năm 1964 cả huyện còn tới 32 xóm chưa có đảng viên, thì năm 1965 còn lại 23 xóm. Năm 1965 kết nạp thêm 142 đảng viên mới. Số đảng viên ở khu vực nông thôn có 1165 đồng chí, chiếm 1,56% nông dân. Có 167 đảng viên giữ chức vụ chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, chiếm 78%; số đối tượng sản xuất chiếm 1/3 (34%). Trong lực lượng dân quân du kích, có 40,4% đảng viên tham gia, có nơi như thị trấn Lục Nam là 100%, Tiên Hưng 63%, Huyền Sơn 61%. Trong đội ngũ cán bộ chỉ huy, có 100% chính trị viên xã đội là đảng viên, 70% cán bộ chỉ huy xã đội. Tuy nhiên, trong công tác xây dựng Đảng, vẫn còn bộc lộ một số khó khăn, hạn chế: Phong trào 4 tốt đạt hiệu quả chưa cao, toàn Đảng bộ huyện mới có 5 chi bộ, 15 tổ đảng và 432 đảng viên đạt danh hiệu này; trong năm 1965, có 6 đảng viên mắc sai phạm bị kỷ luật và đưa ra khỏi đảng 12 đảng viên.

Để nâng cao khả năng củng cố và tăng cường sức mạnh chiến đấu; đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân, giữ vững sản xuất, Đảng bộ đã tổ chức hàng chục đoàn cán bộ xuống các làng xã chỉ đạo công tác phòng không nhân dân, hướng dẫn đào hầm hố phòng tránh bom đạn. Huyện thành lập Ban chỉ huy đảm bảo giao thông do đồng chí Lý Hồng Hà, Phó chủ tịch Ủy ban hành chính huyện phụ trách.

Tính đến cuối năm 1966, cả huyện đã đào được 28.938 hầm hố tránh bom đạn. Phong trào bện mũ rơm phát triển, có tới 100% học sinh và 80% nhân dân các xã Chu Điện, Bảo Sơn, Nghĩa Phương đội mũ rơm đến trường lúc ra đồng sản xuất.

Lực lượng phục vụ chiến đấu (tải thương, tiếp đạn) bảo đảm giao thông, giải toả hàng hoá cùng các tổ trực chiến bắn máy bay được thành lập. Lực lượng dân quân du kích được huấn luyện theo phương án tác chiến; tham gia đào được 12.564 mét giao thông hào, 878 công sự cùng hàng vạn ngày công phối hợp với bộ đội xây dựng trận địa. Ngành vận tải đường sông đã chuyển được 19.942 tấn hàng hoá, vận tải đường bộ được 354.200 tấn.

Nhiều đường giao thông liên xã, liên thôn và đường miền núi được cải tạo, tu bổ. Phong trào bảo vệ an ninh trật tự có một bước tiến mới, trong đó Bảo Đài là lá cờ đầu. Từ 140 xóm năm 1965 đã lên 154 xóm trong năm 1966 đạt loại khá về công tác an ninh.

Trong năm 1966-1967, đế quốc Mỹ tiếp tục đánh phá ác liệt nhiều mục tiêu trên phạm vi miền Bắc nước ta. Trước hành động tăng cường leo thang đánh phá miền Bắc của đế quốc Mỹ, ngày 17-7-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước nêu cao ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Ở tỉnh Hà Bắc và huyện Lục Nam, nếu năm 1966, giặc Mỹ cho máy bay bắn phá ác liệt, gây nhiều tổn thất về người và của, thì trong năm 1967 cường độ chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ đã tăng lên gấp nhiều lần.

Ngày 9-2-1967 (Mùng 1 Tết Đinh Mùi), Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Đảng bộ và nhân dân Tỉnh. Những lời thăm hỏi, chỉ bảo và động viên của Người là nguồn cổ vũ, khích lệ, thúc giục toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tỉnh sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, công tác tốt, học tập tốt.

Thực hiện những chỉ dẫn của Bác, Đảng bộ và quân dân tỉnh Hà Bắc, trong đó có huyện Lục Nam, đã nêu cao ý chí cách mạng tiến công, vừa đẩy mạnh sản xuất, vừa chiến đấu và chiến đấu thắng lợi.

Từ ngày 12 đến 15 tháng 5-1967, tại Làng Sen xã Bảo Đài, đã diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Lục Nam lần thứ VI. Dự Đại hội có 123 (128?), đại biểu thay mặt cho 2300 đảng viên, trong toàn Đảng bộ.

Đại hội đã biểu dương tinh thần cách mạng dũng cảm kiên cường của đồng bào các dân tộc Lục Nam. Thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, Đảng bộ và nhân dân Lục Nam đã nêu cao quyết tâm sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, hết lòng chi viện cho tiền tuyến miền Nam với tinh thần “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.

Đại hội đã bầu BCH Đảng bộ khóa VI (1967-1969) gồm 25 ủy viên[21]; bầu Ban Thường vụ gồm 9 Ủy viên; đồng chí Nguyễn Xuân Tống được bầu làm Bí thư Huyện ủy; đồng chí Nguyễn Văn Quỳ là Phó Bí thư Thường trực; đồng chí Đỗ Văn Sử là Phó Bí thư.

Chính quyền dân chủ nhân dân ngày một được củng cố và hoàn thiện. Năm 1967, huyện Lục Nam đã tổ chức thành công cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân huyện khóa 4 gồm 50 đại biểu. Tháng 6-1967 Hội đồng nhân dân huyện đã họp và bầu ra cơ quan thường trực là Ủy ban hành chính; đồng chí Đỗ Văn Sử được cử làm Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện.

Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, yêu cầu chi viện sức người sức của cho tiền tuyến ngày một tăng, làm nảy sinh những khó khăn mới trên nhiều phương diện. Cũng như các địa phương trên miền Bắc và ở tỉnh Hà Bắc, huyện Lục Nam thiếu một lực lượng trẻ khỏe, có trình độ văn hóa, vì hàng năm địa phương đã đóng góp cho quân đội hàng ngàn thanh niên. Trong đội ngũ cán bộ quản lý các hợp tác xã, trình độ văn hóa và chuyên môn của chủ nhiệm, phó chủ nhiệm hợp tác xã, đội trưởng sản xuất khá thấp. Trong số 97 chủ nhiệm, 94 người có trình độ cấp 1 và 3 người trình độ cấp 2. Có 163/193 phó chủ nhiệm hợp tác xã; nhiều kế toán trưởng, kiểm soát trưởng cũng ở trình độ tương tự.

Công tác quản lý ở các hợp tác xã còn bộc lộ nhiều điểm yếu kém, giá trị ngày công lao động giảm nhanh, lãng phí nhiều, điều hành lúng túng, phương án ăn chia không khoa học, thiếu công bằng. Việc mở rộng quy mô hợp tác xã một cách nóng vội giữa lúc trình độ đội ngũ cán bộ giảm sút, đã làm giảm hiệu quả sản xuất ở khu vực tập thể.  Nếu năm 1965 có 227 hợp tác xã thì đến năm 1966, do tăng quy mô, nên số hợp tác xã giảm còn 97 và 93 vào năm 1967; đã nảy sinh hiện tượng đòi chia tách lại các hợp tác xã.

Do sản lượng lương thực ngày một giảm nên việc chăn nuôi ở khu vực gia đình và tập thể cũng không ổn định, giảm sút. Vẫn còn trên 1000 hộ chưa tổ chức được việc chăn nuôi ở gia đình.

Mặc dù gặp nhiều trở ngại do chiến tranh gây ra, nền kinh tế của huyện chậm phát triển, nhưng sự nghiệp văn hóa, xã hội cũng đạt được nhiều kết quả tích cực.

 Về giáo dục, với tinh thần “dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt, học tốt” theo tư tưởng Hồ Chí Minh, các trường phổ thông nâng cao hiệu quả giảng dạy, học tập và chú ý công tác phòng tránh sự phá hoại của máy bay Mỹ. Trường lớp được phân tán, sơ tán. Hàng ngàn em học sinh ngày ngày đầu đội mũ rơm đến trường đến lớp. Phong trào thi đua “Hai tốt”, “Nghìn việc tốt” trong trường học phát triển mạnh. Cùng với giáo dục phổ thông, giáo dục bổ túc văn hóa phát triển theo tinh thần chỉ thị của Ban bí thư trung ương Đảng, ngày 18-5-1965 về công tác bổ túc văn hóa. Bởi vậy, số người đi học tăng nhanh. Niên học 1965-1966, hệ phổ thông cấp 1 đã có 313 lớp với 11.314 học sinh. Niên học 1966-1967 hệ phổ thông cấp 2 có 51 lớp với 2518 học sinh và hệ cấp 3 có 5 lớp với 195 học sinh. Công tác bổ túc văn hóa hoàn thành kế hoạch hàng năm. Các lớp mẫu giáo, vỡ lòng phát triển đồng đều, đi vào nề nếp và đảm bảo yêu cầu về chất lượng.

Niên học 1967-1968 hệ giáo dục phổ thông của toàn huyện có 426 lớp với 16.292 học sinh. Trong kỳ thi tốt nghiệp, cấp 1 đỗ 90%, cấp 2 đỗ 72%. Đã có 202 lớp vỡ lòng thu hút 7300 cháu, 70% thi đỗ vào lớp 1. Mẫu giáo có 194 lớp thu hút 7603 cháu. Thành tích đó đã góp phần làm nên thành tựu chung của giáo dục miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Đánh giá về thành tựu quan trọng này, trong thư gửi cán bộ, thầy giáo, công nhân viên, học sinh nhân dịp khai giảng năm học mới 1968-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu khẳng định: “Trong hoàn cảnh cả nước có chiến tranh, sự nghiệp giáo dục của chúng ta vẫn phát triển nhanh, mạnh hơn bao giờ hết…Mặc dù giặc Mỹ điên cuồng đánh phá miền Bắc ác liệtt, chúng không những đã thất bại thảm hại trên mặt trận chính trị, quân sự, mà ta đã thắng chúng cả trên mặt trận giáo dục và đào tạo cán bộ”[22].

Trước yêu cầu cấp bách của sự nghiệp vừa sản xuất vừa chiến đấu, xây dựng và bảo vệ quê hương, công tác y tế có tầm quan trọng đặc biệt. Các cấp ủy, chính quyền địa phương gấp rút tăng cường công tác y tế, chuyển công tác y tế thời bình sang thời chiến. Đã có nhiều nhân viên y tế cứu thương, hộ lý, hộ sinh được đào tạo; hàng trăm tổ y tế được thành lập phục vụ chiến đấu, khắc phục hậu quả chiến tranh. Trong chiến tranh ác liệt, nhiều tổ cứu thương đã xông pha nơi lửa đạn, cứu chữa cho nhân dân, bộ đội, dân quân tự vệ. Ngành y tế huyện đã phát động phong trào vệ sinh phòng bệnh và dần đưa phong trào này đi vào các hoạt động chiều sâu, tăng cường công tác bảo vệ bà mẹ trẻ em, phục vụ nhân dân sơ tán; tăng cường công tác y tế ở khu vực miền núi. Các hợp tác xã nông nghiệp đều có tổ y tế; công tác cấp cứu phòng không trong chiến tranh phát triển rộng khắp. Cuối năm 1966 bệnh viện huyện xây dựng xong đi vào hoạt động. Toàn huyện có 28 cửa hàng dược phẩm. Tất cả các xã, thị trấn đều có trạm xá. Đã khám bệnh cho 39.114 lượt người. Việc dùng thuốc chữa bệnh đã trở thành một thói quen của mọi người. Các quan niệm chữa bệnh bằng cúng bái, mê tín dị đoan và các hình thức phản khoa học khác bị đẩy lùi lại.

Phong trào văn nghệ quần chúng phát triển mạnh. Năm 1966 cả huyện có 74 đội văn nghệ nghiệp dư gồm 1220 người tham gia, biểu diễn phục vụ nhân dân được 3.238 buổi. Mạng lưới thông tin tuyên truyền được xây dựng từ huyện đến cơ sở, trong đó đường dây truyền thanh được kéo từ huyện về nhiều xã.

Bộ máy quản lý nhà nước ở Lục Nam ngày càng đi vào kiện toàn, đã vững vàng trước các thử thách của thiên tai, địch họa và đủ sức động viên, tổ chức, lãnh đạo toàn dân trong lãnh đạo sản xuất, phục vụ chiến đấu và chiến đấu, hoàn thành mọi nghĩa vụ đối với nhà nước. Bộ máy chính quyền ở cơ sở cũng được nhân dân tin cậy và ủng hộ.

Tuy nhiên, việc đào tạo bồi dưỡng đại biểu hội đồng nhân dân, ủy viên ủy ban hành chính các cấp chưa được chú ý và thiếu kế hoạch. Trong khi thực hiện nhiệm vụ còn coi nhẹ công tác thuyết phục, giáo dục, còn có hiện tượng mệnh lệnh, quan liêu, thiếu dân chủ. Việc chuyển hướng lãnh đạo nhiệm vụ chính trị từ thời bình sang thời chiến còn lúng túng, thiếu nhạy bén. Phương pháp làm việc còn tùy tiện, luộm thuộm. Việc xác định chức năng giữa tổ chức đảng và chính quyền chưa rõ ràng.

Các đoàn thể quần chúng có nhiều hoạt động thiết thực. Đoàn thanh niên với phong trào 3 sẵn sàng đã thu hút hàng ngàn thanh niên sẵn sàng nhập ngũ, sẵn sàng đi bất cứ đâu, sẵn sàng làm bất cứ việc gì khi tổ chức cần. Nhiều lá đơn tình nguyện được viết bằng máu. Một không khí sôi sục lên đường đánh Mỹ, cứu nước đã phát triển rộng khắp Lục Nam.

Phong trào “Ba đảm nhiệm”, “Ba đảm đang” đã thu hút phụ nữ trong toàn huyện. Phụ nữ đã có mặt đông đảo trong lực lượng dân quân du kích, trong các tổ chức trực chiến và phục vụ chiến đấu. Các hội mẹ chiến sĩ được thành lập và phát triển nhanh chóng, có nhiều đóng góp trong việc tham gia giải quyết chính sách hậu phương quân đội. Đã có hàng ngàn phụ nữ giành được danh hiệu 3 đảm đang, 5 tốt. Số đảng viên là nữ tăng nhanh, từ 5,3% lên 23% vào năm 1968. Đội ngũ đảng viên nữ ở địa phương đã có nhiều công lao và thành tích to lớn trong sản xuất, phục vụ chiến đấu và chiến đấu. Số chị em tham gia cấp ủy; giữ cương vị chủ tịch, phó chủ tịch; chủ nhiệm, phó chủ nhiệm hợp tác xã; trong lực lượng dân quân du kích ngày một tăng. Năm 1965 có 6 cán bộ nữ trong cấp ủy cơ sở; 10 cán bộ nữ là chủ tịch, phó chủ tịch Ủy ban hành chính; 11 cán bộ nữ là phó chủ nhiệm hợp tác xã, 696 nữ dân quân du kích. Năm 1968, có 62 cán bộ nữ tham gia cấp ủy cơ sở, 27 cán bộ nữ là Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban hành chính, 56 cán bộ nữ là chủ nhiệm, 3927 nữ dân quân du kích, 8373 phụ nữ đạt danh hiệu Ba đảm đang (tăng 1074 người so với năm 1967).

Mặt trận Tổ quốc từ huyện đến xã đã động viên đông đảo phụ lão tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương. Ngoài việc giáo dục, động viên con cháu tòng quân giết giặc, hăng hái sản xuất, các cụ còn hăng hái tham gia vào các đội lão dân quân du kích và là lực lượng chủ yếu trong phong trào trồng cây gây rừng. Thiếu nhi hăng hái tham gia phong trào Ngàn việc tốt, phấn đấu trở thành Cháu ngoan Bác Hồ.

Các đoàn thể quần chúng trong quá trình hoạt động cũng Mặc dù trong quá trình hoạt động còn bộc lộ một số nhược điểm, thiếu sót, nhưng hàng ngàn thanh niên, phụ nữ, phụ lão, thiếu niên ở Lục Nam, thông qua các phong trào thi đua cách mạng, được tôi luyện, trưởng thành đã sẵn sàng gánh vác trách nhiệm nặng nề mà Đảng và nhân dân giao phó.

Trong những năm 1966-1968, lực lượng dân quân du kích trong huyện phát triển mạnh. Việc giữ gìn an ninh trật tự và giao thông vận tải được thực hiện nghiêm túc. Công tác phòng không nhân dân và nếp sống quân sự hoá đã đi vào chiều sâu, càng ngày càng có nề nếp. Đảng bộ huyện đã chỉ đạo thực hiện tổ chức cho nhân dân sơ tán, đào hàng ngàn hầm hố phòng tránh, giao thông hào trong các gia đình, thôn xóm, dọc các tuyến giao thông, ở trường học, công sở, những nơi tập trung đông người và các cơ sở sản xuất. Các địa phương, cơ quan, đơn vị tổ chức lực lượng cứu thương, cứu hỏa, đào bới sập hầm; các hoạt động tập trung đông người đều né tránh những giờ cao điểm địch dễ đánh phá. Hệ thống báo động phòng không được tổ chức liên hoàn giữa các vùng, các cấp,… Do đó, địa phương đã hạn chế đến mức độ thấp nhất những thiệt hại về người và của do địch gây ra.

Lực lượng giao thông vận tải đã tu bổ, bảo dưỡng các đoạn đường số 31, đường số 173 và lắp đặt hơn 700 cống lớn nhỏ; mở rộng và làm mới 267,6 km đường liên thôn, trong đó có 121 km đường ôtô vận tải có thể đi được. Có tới 5 xã, 2 đại đội, 22 trung đội đạt danh hiệu đơn vị quyết thắng.

Trong công tác xây dựng Đảng, Đảng bộ đã ra sức tăng cường công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức; kiện toàn thêm một bước sự lãnh đạo và chỉ đạo của cấp ủy; tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng chi bộ 4 tốt, làm cơ sở củng cố và phát triển Đảng vững mạnh, đều khắp ở mọi ngành, mọi đơn vị sản xuất, chiến đấu và công tác. Công tác tư tưởng và công tác tổ chức đều nhằm giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc nhiệm vụ thiêng liêng chống Mỹ, cứu nước; giáo dục nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Cuộc vận động xây dựng chi bộ và Đảng bộ cơ sở 4 tốt được tiến hành trong những năm chống chiến tranh phá hoại và được tổng kết vào tháng 4-1966. Đây cũng là thời kỳ Đảng bộ Lục Nam có những bước trưởng thành cả về chất lượng và số lượng. Năm 1966 cả huyện kết nạp được 402 đảng viên mới, đưa tổng số đảng viên của Đảng bộ lên 1666 đồng chí (chiếm 2,2% dân số), trong đó số đảng viên dưới 27 tuổi chiếm 17,1%. Số đảng viên là đoàn viên thanh niên tăng nhanh. Những năm 1965-1968, đã có 1065 đoàn viên thanh niên ưu tú được đứng vào hàng ngũ của Đảng (1965: 64 đồng chí, 1966: 237 đồng chí, 1967: 527 đồng chí, 1968: 237 đồng chí).

Các chi bộ, tổ chức cơ sở đảng được chấn chỉnh, kiện toàn. Công tác xây dựng cơ sở đảng và đảng viên 4 tốt đạt kết quả: 1 đảng bộ, 11 ch bộ (17%), 12 tổ đảng (11%) và 687 đảng viên (40%) đạt danh hiệu 4 tốt. Kết quả phân loại có 11 Đảng bộ, 1189 đảng viên (chiếm 62% đảng viên qua phân loại) đạt loại khá. Tuy nhiên, vẫn còn tới 33,9% đạt mức trung bình, 4,1% thuộc loại yếu kém.

Cán bộ cơ sở được thường xuyên huấn luyện về công tác đảng. Việc giáo dục chính trị tư tưởng được tiến hành thường xuyên. Trong hai năm 1967-1968 đã tổ chức cho 16.424 lượt đảng viên học tập và quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Huyện uỷ cũng tổ chức kiểm tra dân chủ kỷ luật đảng ở 2 cơ sở đảng ở nông thôn là Tam Dị và Bắc Lũng, 2 cơ sở đảng cơ quan là Công an và Bưu điện. Năm 1968, Huyện uỷ tổ chức cho 26 cơ sở đảng, 50 chi bộ và tổ đảng, 1079 đảng viên bình báo công và tổ chức cho quần chúng góp ý phê bình; tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức Đảng, nâng chi bộ Lục Sơn, Hám Lạng, Tiên Hưng thành Đảng bộ; thành lập chi bộ trường phổ thông cấp 3, chi bộ Vân Kiều, chi bộ Xưởng Chè. Trong 2 năm 1967-1968, qua phân loại, số lượng các cơ sở, đảng viên đạt danh hiệu 4 tốt như sau: năm 1967 có 4 Đảng bộ cơ sở, 36 chi bộ và 21 tổ đảng và 1243 đảng viên đạt danh hiệu 4 tốt; loại khá có 26 cơ sở đảng, 24 chi bộ, 40 tổ đảng, 699 đảng viên; loại kém có 2 cơ sở đảng, 9 tổ đảng và 85 đảng viên. Đến năm 1968, có 7 cơ sở đảng, 40 chi bộ, 30 tổ đảng và 1694 đảng viên đạt danh hiệu 4 tốt; loại khá có 19 cơ sở đảng, 5 chi bộ, 18 tổ đảng và 413 đảng viên; loại kém có 8 cơ sở đảng, 5 tổ đảng và 98 đảng viên.

Năm 1967 có 258 đảng viên, chi uỷ viên thì hầu hểt trình độ mới hết cấp 1 (202 đồng chí), trình độ cấp 3 chỉ có 5 đồng chí. Về độ tuổi, đa số từ 30 tuổi trở lên (118 đồng chí từ 31- 40 tuổi, 82 đồng chí từ 41- 50 tuổi, 16 đồng chí trên 50 tuổi). Trong năm 1968 có 264/328 đồng chí trình độ văn hoá cấp 1; có 13 đồng chí từ 41-50 tuổi, 18 đồng chí trên 50 tuổi. Trong năm 1968 đã có 95,5% chủ nhiệm, 82,6% phó chủ nhiệm hợp tác xã, trên 60% kế toán trưởng, 69% kiểm soát trưởng, 56% ủy viên ban quản trị, 52,4% đội trưởng sản xuất, 18,8% dân quân du kích, 92% công an viên thôn xóm là đảng viên. Năm 1968 kết nạp được 366 đảng viên mới.

Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng chất lượng của đảng viên còn thấp. Số cơ sở đảng và đảng viên đạt danh hiệu 4 tốt và xếp loại khá còn chưa nhiều. Trình độ văn hóa dẫm chân tại chỗ, chậm được nâng lên. Tính đến năm 1968, cả huyện mới có 20 đảng viên có trình độ trung cấp kỹ thuật, 16 đảng viên có trình độ sơ cấp kỹ thuật.

Thanh niên, phụ nữ luôn là lực lượng xung kích trên các lĩnh vực sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu, khắc phục hậu quả chiến tranh. Mặt trận Tổ quốc, các cụ phụ lão và nhất là Hội mẹ chiến sĩ đã có nhiều hoạt động thiết thực giúp đỡ, động viên thanh niên địa phương yên tâm lên đường đánh giặc. Nhiều phong trào như quyên góp quà tặng, vá áo, bện áo giáp rơm, mũ rơm,…tặng và phục vụ bộ đội, dân quân tự vệ trực chiến trong các tầng lớp nhân dân được thực hiện sôi nổi, mạnh mẽ.

Trong 3 năm (1965-1967) đã có trên 3000 thanh niên, trong đó có 266 đảng viên đã lên đường nhập ngũ. Các xã Cẩm Lý, Lục Sơn, Đông Hưng, Đông Phúc, Bảo Sơn bắt sống nhiều giặc lái Mỹ. Qua chiến đấu, lực lượng bộ đội địa phương và dân quân tự vệ có nhiều bước trưởng thành. Nhiều đơn vị được tặng danh hiệu “Đơn vị quyết thắng”.

Tính đến ngày 20-7-1967, quân và dân trong tỉnh đã bắn rơi 100 máy bay các loại của giặc Mỹ. Với những chiến công xuất sắc trong chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, nhất là bắn rơi nhiều máy bay và bắt sống giặc lái, Đảng bộ và quân dân tỉnh Hà Bắc vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen.  Thư của Bác có đoạn: “Bác rất vui lòng được tin Hà Bắc đã bắn rơi 100 máy bay Mỹ. Thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác gửi lời khen ngợi đồng bào các dân tộc, chiến sĩ và cán bộ Hà Bắc đã đánh giỏi, chiến thắng vẻ vang, đặc biẹt là dãn đầu các tỉnh trong việc bắt sống nhiều giặc lái máy bay”.

Hoạt động chi viện lực lượng cho chiến trường miền Nam được đẩy lên ở cấp độ cao hơn. Cùng với việc tăng cường chi viện vật chất vũ khí cho chiến trường miền Nam, tháng 5-1968, tại khu Tứ Sơn (Bắc Sơn, Trường Sơn, Bình Sơn, Lục Sơn) mà trung tâm là Mai Siu thuộc huyện Lục Nam và xã Tân Mộc, huyện Lục Ngạn, Trung đoàn 568 (E568) được thành lập với nhiệm vụ huấn luyện bộ đội chi viện cho chiến trường miền Nam. Từ năm 1968 đến 1972, đã có hàng ngàn chiến sĩ quân đội được huấn luyện nơi đây và lên đường vào Nam chiến đấu.

2. Từng bước khôi phục và phát triển kinh tế-xã hội; nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ quê hương; tăng cường chi viện tiền tuyến

Bị thua đau ở cả hai miền Nam-Bắc nước ta, đến tháng 10-1968, đế quốc Mỹ buộc phải xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom đánh phá miền Bắc. Sự kiện này đánh dấu thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam ở cả hai miền. Ngày 3-11-1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước anh dũng tiến lên đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược. Đánh giá thắng lợi của cách mạng nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Càng chiến đấu chống giặc Mỹ, miền Bắc càng vững vàng về mọi mặt và luôn hết lòng hết sức ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của đồng bào miền Nam[23].

Đảng bộ và nhân dân Lục Nam tự hào đã góp phần vào đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ. Sau khi đế quốc Mỹ buộc phải ngừng ném bom miền Bắc, trong hoàn cảnh mới, Lục Nam nhanh chóng ổn định sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn, các hợp tác xã ở Lục Nam được chỉ đạo tổ chức cho xã viên học tập Điều lệ hợp tác xã nông nghiệp. Khí thế thi đua lao động sản xuất trong xã viên được nâng cao.

Trong điều kiện đế quốc Mỹ tạm ngừng ném bom bắn phá miền Bắc, cùng với chỉ đạo khẩn trương khắc phục hậu quả chiến tranh, từng bước phát triển kinh tế-xã hội, vấn đề xây dựng Đảng bộ vững mạnh được hết sức được coi trọng, nhằm kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo trước tình hình và nhiệm vụ mới.

Từ ngày 12 đến 15-5-1969 (Theo lịch sử tổ chức nhân sự BCH huyện, thì là từ ngày 12 đến 16-5-1969), Đảng bộ huyện Lục Nam đã tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, tại làng Sen xã Bảo Đài, với sự tham dự của 148 đại biểu thay mặt cho trên 2500 đảng viên trong toàn Đảng bộ.

Đại hội đã tập trung kiểm điểm công tác của Đảng bộ trong hai năm 1967-1969, vạch ra phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu nhiệm kỳ 1969-1971, trong đó nhấn mạnh tranh thủ điều kiện hòa bình để phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội, củng cố, xây dựng lực lượng vũ trang, làm tốt công tác an ninh trật tự, góp phần cùng cả nước đưa sự nghiệp cách mạng từng bước đi lên; phát động phong trào thi đua sản xuất và chiến đấu giỏi, hoàn thành mọi nhiệm vụ với Nhà nước, góp phần củng cố miền Bắc, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà.

Đại hội bầu Ban Chấp hành khóa mới gồm 19 ủy viên chính thức, 1 ủy viên dự khuyết[24], do đồng chí Nguyễn Hữu Kỳ làm Bí thư; đồng chí Nguyễn Văn Thuyết là Phó Bí thư thường trực, kiêm trưởng Ban Tổ chức và Tuyên huấn; đồng chí  Đỗ Văn Sử là Phó Bí thư kiêm Chủ tịch UBHC huyện.

Sau Đại hội, Huyện ủy tiếp tục chú trọng công tác xây dựng đảng trên 3 mặt: giáo dục chính trị - tư tưởng, tổ chức và kiểm tra.

Giữa lúc Đảng bộ và nhân dân trong huyện ra sức khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, củng cố miền Bắc, tiếp tục chi viện sức người sức của cho sự nghiệp cách mạng giải phóng miền Nam, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu từ trần (2-9-1969). Trong niềm đau thương vô hạn, Đảng bộ và nhân dân Lục Nam đã tổ chức trọng thể Lễ truy điệu Người, bỉến đau thương thành hành động cách mạng, nguyện thực hiện thắng lợi Di chúc của Người. Quán triệt Chỉ thị của Bộ Chính trị, ngày 29-9-1969 về mở đợt sinh hoạt chính trị để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân học tập và làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Huyện ủy đã tổ chức đợt sinh hoạt tư tưởng, giáo dục đảng viên, tiến hành kiểm điểm sâu sắc và phát động thi đua, xây dựng chương trình hoạt động cách mạng.

 Trên mặt trận lao động sản xuất, các địa phương trong huyện đã đẩy mạnh cuộc vận động thi đua lao động sản xuất, nhằm động viên mọi lực lượng làm việc và lao động sản xuất có năng suất, chất lượng và hiệu quả; tăng nhanh sản phẩm xã hội, khôi phục và phát triển kinh tế, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

Cùng với việc lãnh đạo nông dân thi hành Điều lệ hợp tác xã, Đảng bộ chỉ đạo mở cuộc vận động phát huy dân chủ, tăng cường chế độ làm chủ tập thể của quần chúng xã viên ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc, theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị, ngày 15-3-1970.

Để nâng cao khả năng công tác, huyện ủy đã cử 26 cán bộ đi học trường đảng tỉnh và Trung ương, 63 cán bộ đi học bổ túc văn hóa dài hạn, tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng tổ chức đảng và đảng viên 4 tốt, tập trung mọi cố gắng củng cố 7 đảng bộ, 15 chi bộ yếu kém. Năm 1969 số Đảng bộ xã yếu kém giảm 25%, đảng viên bỏ sinh hoạt giảm 54%. Cũng trong năm 1969, đã tổ chức kiểm tra chất lượng công tác phát triển đảng trong 5 năm 1965-1969 ở các xã Chu Điện, Vũ Xá, Đông Hưng để đúc rút kinh nghiệm; phát huy ưu điểm, khắc phục, hạn chế khuyết điểm thiếu sót.

Từ ngày 17 đến 21 tháng 5 năm 1971, tại địa điểm Xưởng Cưa, Đồi Ngô, Đảng bộ Lục Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VIII, có 128 đại biểu tham dự. Các đồng chí Phương Minh Nam-Phó Bí thư Tỉnh ủy, Vũ Hoàng Kim và Lê Viết Hưng-Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã về dự và chỉ đạo Đại hội. Sau khi phân tích, đánh giá kết quả 2 năm công tác, Đại hội biểu dương hợp tác xã Vinh Quang (Yên Sơn) và một số hợp tác xã khác đã đạt mục tiêu 5 tấn thóc trên một hécta gieo trồng, biểu dương các địa phương đã mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa giống lúa mới có năng suất cao vào vụ Xuân; chăn nuôi tập thể có nhiều tiến bộ và mở ra nhiều khả năng phát triển mạnh hơn.

Trong phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu của công tác Đảng, Đảng bộ đã bám sát chương trình thực hiện 3 cuộc vận động lớn do Trung ương đề ra (vận động lao động sản xuất, vận động phát huy dân chủ và tăng cường chế độ làm chủ tập thể của quần chúng xã viên ở nông thôn; vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp lớp đảng viên Hồ Chí Minh theo nghị quyết của Bộ Chính trị, tháng 3-1970. Cuộc vận động góp phần tăng cường sức chiến đấu của Đảng bộ, củng cố các cơ sở đảng yếu kém; số tổ chức đảng và đảng viên đạt tiêu chuẩn “4 tốt” tăng lên rõ rệt, thúc đẩy việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị.

Đại hội đề ra phương huớng, nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ 1971-1973, với những nội dung cơ bản: khắc phục những hạn chế, nhược điểm trong nhiệm kỳ trước; đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, quán triệt thực hiện tốt đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng, nâng cao tinh thần sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi; tập trung mọi cố gắng khôi phục và phát triển kinh tế-xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; coi trọng công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng; tích cực chi viện sức người sức của cho tiền tuyến miền Nam.

Từ ngày 25-5 đến ngày 1-6-1971, Đảng bộ tỉnh Hà Bắc tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ II. Về phương hướng, nhiệm vụ của Đảng bộ và nhân dân tỉnh trong những năm 1971-1973, Đại hội chỉ rõ: Phát triển nông nghiệp mạnh mẽ, toàn diện, đưa nông nghiệp đi dần lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa để nhanh chóng giải quyết những vấn đề về lương thực; đưa chăn nuôi lên thành ngành kinh tế chính; phát triển mạnh mẽ nghề rừng, công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp; đẩy mạnh xuất khẩu; kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng; tăng cường công tác quân sự địa phương, công tác an ninh trật tự, sẵn sàng chiến đấu và chiến đsấu thắng lợi.

Đại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 1971-1973 gồm 21 ủy viên chính thức, 2 ủy viên dự khuyết, Ban thường vụ gồm 7 ủy viên do đồng chí Nguyễn Hữu Kỳ làm Bí thư; đồng chí Đỗ Văn Sử là Phó Bí thư, kiêm Chủ tịch UBHC huyện; đồng chí Nguyễn Văn Thuyết là Phó Bí thư thường trực, kiêm phụ trách Tổ chức và Tuyên huấn[25].

Trong 2 năm 1971-1972, Đảng bộ huyện Lục Nam tổ chức quán triệt thực hiện Chỉ thị 192 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác bảo vệ Đảng, qua đó, củng cố về tư tưởng, chính trị và tổ chức, làm cho tổ chức cơ sở Đảng đủ sức lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng của địa phương, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới. Đảng bộ chỉ đạo tổ chức công tác kiểm tra trong hai năm 1971-1972 đạt được nhiều kết quả: 114 đảng viên lý lịch không rõ ràng được xem xét lại, khai trừ 57 người ra khỏi hàng ngũ, xóa đảng tịch 17 trường hợp khác, không công nhận 5 trường hợp, cho 6 người tự nguyện ra khỏi đảng và xóa tên 26 đảng viên dự bị.

Công tác xây dựng và củng cố chính quyền, các đoàn thể nhân dân được đẩy mạnh. Cuộc bầu cử HĐND, Ủy ban hành chính các cấp được tổ chức thắng lợi, đúng pháp luật. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của các cấp chính quyền được nâng lên một bước.

Đoàn thanh niên đẩy mạnh thực hiện phong trào tình nguyện “Ba sẵn sàng”, nhiều lá đơn được ký bằng máu thể hiện quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, thể hiện lý tưởng cao đẹp của thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh. Giới phụ nữ tiếp tục nêu cao hành động “ba đảm đang”, làm yên lòng những người thân ra trận. Các cháu thiếu niên, nhi đồng hăng hái tham gia phong trào “nghìn việc tốt”, “Cháu ngoan Bác Hồ”. Mặt trận Tổ quốc được mở rộng xuống tận cơ sở. Các cụ phụ lão hăng hái tham gia phong trào “Ba giỏi”, tích cực lao động sản xuất, tiết kiệm, thực hiện nếp sống mới, làm nòng cốt trong phong trào trồng cây gây rừng, tham gia các đội “bạch đầu quân”,…

Trên măt trận kinh tế, phát triển kinh tế nông nghiệp được đặt lên hàng đầu. Từ năm 1969, các cấp ủy Đảng và chính quyền tổ chức cho xã viên học tập Điều lệ hợp tác xã nông nghiệp; kết hợp kiện toàn và củng cố, cải tiến quản lý hợp tác xã nông nghiệp, đưa hợp tác xã quy mô nhỏ lên quy mô lớn, đưa hợp tác xã bậc thấp lên bậc cao. Sau khi được học tập Điều lệ hợp tác xã và tiến hành củng cố các hợp tác xã nông nghiệp, quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp nông thôn đã có bước phát triển. Tỷ lệ hộ nông dân tham gia hợp tác xã nông nghiệp tăng nhanh (toàn tỉnh Hà Bắc đạt trên 90% số nông hộ).

Nhằm đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế và văn hóa-xã hội, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Lục Nam được củng cố và tiếp tục hoàn thiện. Tính đến năm 1970, 100% số hợp tác xã nông nghiệp của huyện đã lên bậc cao. Năm 1971 các hợp tác xã đã quản lý 93,7% tư liệu sản xuất. Tuy nhiên, thời gian này, những hạn chế, yếu kém của các hợp tác xã bậc cao ngày càng bộc lộ, nhất là trong khâu tổ chức sản xuất, nâng cao hiệu quả lao động. Số hợp tác xã khá và trung bình giảm nhiều, số hợp tác xã kém tăng nhanh, biểu hiện nhiều mặt yếu kém sa sút của HTX nông nghiệp: Năm 1970 có 29 hợp tác xã loại khá, 52 hợp tác xã trung bình và 12 hợp tác xã yếu kém; tỷ lệ đó năm 1971 giảm còn 13 loại khá, 40 loại trung bình và 40 yếu kém.

Công tác thủy lợi tập trung nhiều vào phong trào xây dựng bờ vùng, bờ thửa, nạo vét kênh mương, xây hồ chứa nước. Năm 1971, hơn 560 đội viên thủy lợi chuyên trách của huyện Lục Nam trên công trường xây dựng trở thành lá cờ đầu, được nhận cờ thưởng luân lưu của tỉnh. Hai trạm bơm Đá Ngăn, Cẩm Lý và đập chắn nước hồ Cây Đa hoàn thành. Các đập nhỏ, kênh mương bờ vùng, bờ thửa, đê điều đã thu hút hàng vạn ngày công.

Trong năm 1971, Lục Nam bị lụt lớn. Những trận mưa kéo dài trong tháng 8 trải trên một diện rộng; chỉ trong hai ngày 17 và 18-8-1971 lượng mưa đã lên tới 360mm. Nước lũ từ Sơn Động, Lục Ngạn dồn dập tràn về khiến cho mực nước ở bến phà Lục Nam lên tới 7,63 vượt hẳn độ cao con đê. Sáng 19-8, đê chợ Sa bị tràn vỡ, đê Thống Nhất-đoạn Yên Sơn vỡ một đoạn dài 230mét, sâu tới 5,4m khiến cho 21/26 xã và thị trấn bị nhấn chìm trong nước. Lụt lớn đã làm đổ 3931 nóc nhà, 17 cơ quan bị ngập nước, 8 cơ quan bị đổ, làm chết 13 người và nhiều trâu bò, gia súc. Nước lũ cũng phá hỏng 1588 ha lúa mới cấy, cuốn trôi 94 tấn thóc mạ đã gieo và 17,5 tấn thóc dự trữ. Trước tình hình nguy cấp do lũ lụt đe dọa, ngày 20-8 lực lượng quân đội đã dùng máy bay trực thăng chuyển lương thực, thực phẩm đến cứu trợ cho đồng bào những vùng bị ngập lụt.

Khi xảy ra lụt lội, tỉnh và huyện đã tổ chức đưa cán bộ xuống cơ sở nắm tình hình, thăm hỏi, động viên và đã cấp phát gần 6 tấn đường sữa, 50 tấn gạo, 207 tấn thóc, 99.201 m2 giấy dầu, 15.518 bát ăn cơm, 1556 chiếc chiếu, 4656 mét vải màn, 268 xoong nhôm, 175 tấn bột ngô, bột mỳ, bán 2.799mét vải không thu tem phiếu cùng nhiều thuốc chữa bệnh cho 19 xã. Ngành y tế còn tổ chức khám, chữa bệnh, phát thuốc cho 3246 người ốm đau trong những ngày lũ lụt, giúp khử trùng 100% số giếng bị ngập nước, làm mới hàng ngàn nhà vệ sinh.

Phát huy truyền thống tương thân tương ái, Đảng bộ phát động phong trào quyên góp, giúp đỡ nhau, “lá lành đùm lá rách”. Nhân dân các xã Bình Sơn, Vô Tranh, Lục Sơn, Đông Hưng, Đông Phú, Nghĩa Phương, Trường Sơn ủng hộ các vùng bị lụt nặng 785 gánh cỏ gianh, 760 phên gianh, 246.976 cây giang, nứa và 58 lao động Nghĩa Phương xuống giúp Yên Sơn. Ngày 1 - 10, học sinh Yên Sơn nơi bị lụt tàn phá dữ dội nhất, được cắp sách đi học trở lại.

Sau khi nước rút, Đảng bộ chỉ đạo thực hiện phong trào giúp đỡ đồng bào bị lũ lụt, về lương thực, thực phẩm, vật liệu sửa chữa nhà cửa; giống, vốn sản xuất, từng bước ổn định cuộc sống và bắt tay vào sản xuất vụ Thu Đông; đồng thời dốc sức khôi phục hệ thống thủy lợi bị hư hại do mưa lũ; nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế.

Công tác thủy lợi trong năm 1972 được tăng cường. Đã củng cố 65 đội thủy lợi chuyên trách. Đê Thống Nhất được khẩn trương đắp lại.Khối lượng đất đá đào đắp vượt năm 1971 là 68,3%, hàng ngàn héc ta lúa và hoa mầu đã được bảo đảm tưới tiêu chủ động, hàng ngàn héc ta một vụ đã được chuyển đổi thành 2 hoặc 3 vụ. Tuy nhiên, công tác thủy lợi hàng năm còn thất thường; kế hoạch, quy hoạch thủy lợi chưa khoa học, còn chắp vá, lãng phí. Phong trào làm thủy lợi phát triển chưa đồng đều và mạnh mẽ. Đê thống Nhất chưa được tu sửa, củng cố thường xuyên, đến mùa mưa mới đạt 17% kế hoạch; chất lượng kỹ thuật chưa đảm bảo. Việc chỉ đạo công tác phòng chống lụt bão còn bị động, lúng túng, nhiều khi có hiện tượng phó mặc.

Sản xuất nông nghiệp đến năm 1970 không đạt kế hoạch đề ra tuy năm 1970 có nhiều chỉ tiêu được thực hiện cao hơn năm 1968, trong đó tổng diện tích gieo trồng tăng 6,8% trong đó diện tích lúa tăng 10,5%, năng suất lúa tăng 8,8%, tổng sản lượng lương thực tăng 7,8%, riêng thóc tăng 20%. Do sản xuất nông nghiệp tăng chậm, bấp bênh, dân số tăng cao, nên mức bình quân đầu người/tháng có chiều hướng giảm dần: năm 1969 chỉ có 14kg, năm 1970 tăng lên 17,1 kg, trong khi nghĩa vụ giao nộp lương thực cho nhà nước tăng gần gấp2 lần năm 1969.

Năm 1972, tuy thiên tai, địch họa nặng nề hơn, nhưng sản xuất nông nghiệp lại tăng trở lại, diện tích gieo trồng tăng 5%; năng suất lúa tăng 21%, tổng sản lượng tăng 27,6%. Bình quân 1 héc ta gieo trồng có gần 2 lao động đảm nhiệm, đạt 3,7 tấn thóc và 1,6 con lợn. Nhờ vậy, nghĩa vụ lương thực đã đạt từ 101,9% trong vụ mùa đến 105% trong vụ chiêm. Huyện thực hiện cứu trợ cho 6980 hộ bị tai họa chiến tranh với số lượng lương thực đạt 2509 kg, 548 hộ khó khăn thường xuyên với 6446 kg lương thực và một số lớn tiền của.

Hoạt động giáo dục của huyện tiếp tục được giữ vững và có những chuyển biến tích cực. Năm học 1971-1972, do thiên tai năng nề, địch đánh phá ác liệt, khó khăn về kinh tế -xã hội tăng lên, do đó hoạt động giáo dục chịu nhiều ảnh hưởng, nhiều nơi khai giảng năm học muộn, tuy nhiên số học sinh cấp 1 tăng 18%; cấp 2 tăng 5,5%. Năm học tiếp theo do chiến tranh ác liệt, nhưng số học sinh vẫn đông hơn trước 3742 em, thi đỗ tốt nghiệp cấp I đạt 91,8%; cấp II đạt 61 %; cấp III đạt 90%.

Phong trào văn hóa thông tin, thể dục thể thao diễn ra sôi nổi, rộng khắp. Phong trào đọc sách báo, làm theo sách báo phát triển. Nhiều xã, làng, bản đã xây dựng được các đội thể thao như bóng đá, bóng chuyền, hoạt động thường xuyên, góp phần làm sôi động đời sống văn hóa cơ sở.

Sự nghiệp y tế có những thành tựu mới. Đội ngũ cán bộ y tế được tăng cường. Phong trào vệ sinh phòng bệnh, phong trào vận động nhân dân trồng cây thuốc nam được duy trì, phát triển. Phương pháp chữa bệnh Đông-Tây y kết hợp được tích cực thực hiện và đạt nhiều kết quả. Hàng năm, ngành y tế tổ chức được nhiều tổ, nhóm các thầy thuốc xuống tận cơ sở khám chữa bệnh cho nhân dân. Trong trận lũ lụt lịch sử năm 1968 và 1972, đội ngũ cán bộ y tế đã ra sức tham gia khắc phục hậu quả lũ lụt, kịp thời và chủ động không để dịch bệnh xảy ra, nhất là những ngày sau lụt.

Công tác quân sự địa phương được cấp ủy, chính quyền quan tâm và thu được những kết quả tiến bộ.

Từ cuối năm 1968, tổ chức Đảng và chính quyền các cấp tập trung chấn chỉnh và củng cố lực lượng bộ đội địa phương, dân quân tự vệ và giữ vững nếp sống quân sự hóa. Trong trận lụt lịch sử năm 1968 và 1971, bộ đội địa phương, công an, dân quân tự vệ là lực lượng nòng cốt trong giữ gìn an ninh trật tự, giúp nhân dân chống lụt và khắc phục hậu quả lũ lụt.

Năm 1972, cuộc tiến công chiến lược của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam diễn ra mãnh liệt và bất ngờ, đặt chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ bên bờ vực phá sản. Trước tình hình đó, đế quốc Mỹ quyết định liều lĩnh đánh phá trở lại miền Bắc. Khác với cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (leo thang từng bước, vừa đánh vừa thăm dò), lần này chúng sử dụng lực lượng lớn hơn đánh phá dồn dập, leo thang nhanh ngay từ đầu, thủ đoạn đánh phá dã man, tàn bạo hơn; kết hợp sức mạnh đánh phá của cả không quân và hải quân, cả máy bay chiến thuật và chiến lược nhằm mục đích tạo sức ép không chịu nổi buộc ta phải ngừng cuộc tiến công ở miền Nam.

Hiểu rõ bản chất ngoan cố và hiếu chiến của đế quốc Mỹ, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 20 vào đầu năm 1972, nhấn mạnh “Quân và dân miền Bắc nâng cao tinh thần cảnh giác và trình độ sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu và hành động chiến tranh mới của đế quốc Mỹ và tay sai, bảo vệ vững chắc sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

Ngày 29-5-1972, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Bắc ra nghị quyết chỉ rõ hai mục tiêu lớn mà toàn Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh phải thực hiện là: “Kiên trì chống Mỹ, cứu nước, đảm bảo chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai.

Trong hoàn cảnh nào cũng phải tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, giữ vững và đẩy mạnh sản xuất trong điều kiện có chiến tranh, đảm bảo đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân”.

Trong tình hình mới rất khẩn trương, các cấp ủy, chính quyền địa phương đã chỉ đạo nhân dân Lục Nam khôi phục lại hệ thống các công trình phòng tránh; lực lượng vũ trang địa phương được củng cố một bước và tăng cường lực lượng cả về con người và vũ khí. Nhân dân, trụ sở cơ quan, trường học,… được tổ chức sơ tán triệt để. Cán bộ, đảng viên và quân dân địa phương cùng cán bộ, đảng viên và nhân dân tỉnh sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Đảng bộ tỉnh Hà Bắc, các lực lượng vũ trang địa phương ở Lục Nam nhanh chóng chuyển vào trạng thái thời chiến, sẵn sàng đánh địch và đẩy mạnh công tác phòng không nhân dân ở các trọng điểm.

Ngày 11-6-1972, không quân Mỹ liều lĩnh trút bom đạn xuống Lục Nam với mức độ hết sức tàn khốc. Quân và dân lục Nam sẵn sàng trong tư thế chiến đấu, lập nhiều chiến công xuất sắc.

Ngày 22-6-1972, đội dân quân trực chiến xã Trường Sơn phát hiện nhiều tốp máy bay địch xâm phạm không phận Hà Bắc, chuẩn bị giáng trả. Khi máy bay địch bị lực lượng phòng không - không quân đánh trả quyết liệt, một tốp lợi dụng sườn núi để bay ra biển Đông, nhưng đã rơi vào trận địa chờ sẵn ở Trường Sơn. Đợi cho địch vào đúng tấm bắn của đại liên, đồng chí Hao xã đội trưởng hạ lệnh bắn. Cả đội trực chiến kịp thời nổ súng chính xác, bắn trúng chiếc đi đầu ở độ cao khoảng 250 mét, chiếc máy bay bốc cháy và rơi ở Hoành Bồ (Quảng Ninh).

Ngày 23-6-1972, một tốp máy bay địch lợi dụng các khe núi ở vùng Đông Bắc, bay thấp luồn qua các thung lũng vào đánh lén các mục tiêu ở Hà Bắc. Đội trực chiến xã Nghĩa Phương với tinh thần cảnh giác cao độ đã bắn rơi 1 chiếc F4 khi chúng chưa kịp gây tội ác.

Ngày 20-7-1972, máy bay Mỹ bắn phá một số điểm thuộc huyện Lạng Giang, bị đánh trả theo sườn núi chạy trốn, nhưng đã bị đội trực chiến xã nghĩa Phương bắn rơi 1 chiếc F4.

Ngày 25-8-1972, Mỹ cho máy bay không người lái vào trinh sát Hà Bắc. Dân quân du kích xã Cương Sơn đã hợp đồng chặt chẽ, bắn trúng ngay từ loạt đạn đầu ở cự ly 400 mét, máy bay địch bốc cháy, rơi xuống địa phận Đông Phú.

Ngoài ra, đêm 17-9-1972, máy bay Mỹ đánh vào Lục Nam hàng chục trận. Chúng đã rải xuống huyện hàng trăm tấn bom đạn các loại, trong đó dùng cả máy bay B52 hủy diệt một số địa bàn. Các địa phương như Bảo Sơn, thị trấn Lục Nam, Vũ Xá, Tiên Hưng, Cẩm Lý bị chà đi xát lại nhiều lần, bom đạn của giặc Mỹ đã giết hại 98 dân lành, làm bị thương 269 người. Tổng cộng trong thời gian đó, giặc đánh ban ngày 37 lần ở 39 điểm, đánh ban đêm 24 lần ở 26 điểm. Cả huyện có 21/26 xã, thị trấn bị đánh phá.

 Nếu tính trong 8 năm 1965-1972, giặc Mỹ đã cho 1830 lượt chiếc máy bay ném trên 500 tấn bom, bắn 2750 quả rốckét, thả 710 quả thủy lôi và bắn nhiều lọai đạn khác xuống huyện Lục Nam. Riêng xã Tiên Hưng, mỗi người dân phải hứng chịu 1 quả bom phá. Bom đạn giặc Mỹ đã sát hại nhiều người, phá hủy nhiều tài sản của nhà nước và nhân dân.

Lực lượng dân quân tự vệ của huyện luôn chiếm trên 29% dân số; trong đó có 01 đại đội súng 14,5ly; 12 trung đội súng 12,7ly; 6 trung đội đại liên và 26 trận địa súng trường bắn máy bay tầm thấp. Lực lượng dân quân tự vệ huyện chiến đấu 119 trận, trực tiếp bắn rơi 4 máy bay Mỹ và bắn bị thương 6 chiếc khác, bắt sống 19 tên giặc lái.

Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, quân dân Lục Nam còn tháo gỡ 1063 quả bom, thủy lôi các loại trên đoạn sông Lục Nam-Phả Lại, thu hồi 2500 quả bom bi các loại, đảm bảo mạch máu giao thông không lần nào bị ùn tắc quá 24 tiếng đồng hồ; huy động 150.000 ngày công, đào 12564 km giao thông hào, 8780 công sự, tham gia xây dựng trận địa, sửa cũ và làm mới 267 km đường liên thôn với hàng chục triệu m3 đất đá phục vụ sản xuất, sinh hoạt và chiến đấu; lực lượng vận tải đường bộ và đường sông đã vận chuyển được 474.142 tấn hàng hóa; phối hợp với dân quân tự vệ địa phương bạn giải tỏa 4000 tấn hàng hóa ở ga Kép, 815 tấn hàng hóa ở ga Bắc Giang. Trên địa bàn huyện luôn có các đơn vị bộ đội chủ lực, các cơ quan, trường học của trung ương, của tỉnh đứng chân, song đều được bảo vệ an toàn và còn giúp đỡ nhân dân 25 triệu cây tre nứa, 200.000 m3 gỗ, làm giúp 1450 gian nhà ở, đan 160.000 mũ rơm, áo rơm, 120.000 chiếc sọt để đựng hàng hóa…Lực lượng an ninh nêu cao tinh thần cảnh giác, đã bắt sống 24 tên thổ phỉ, 1 tên biệt kích. Trong 8 năm 1965-1972, huyện có 13 xã, 160 thôn được công nhận là đơn vị có phong trào bảo vệ an ninh tốt.

 

                                           Chương VI     

KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, TIẾP TỤC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, CHI VIỆN CHO TIỀN TUYẾN, GÓP SỨC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1973 - 1975)

 

Sau Hiệp định Pari (27 - 1 - 1973), nhân dân miền Bắc nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế, đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và dồn sức chi viện nhiều nhất cho cách mạng miền Nam đi tới thắng lợi hoàn toàn.

Ngày 22 - 1 - 1974, Hội nghị lần thứ 22 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa III) họp, ra nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế miền Bắc trong 2 năm 1974 - 1975, nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, ra sức khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, ổn định đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng, chi viện cho miền Nam tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Thực hiện nghị quyết của Đảng, nhân dân miền Bắc lao động hăng hái, khẩn trương, thực hiện có hiệu quả kế hoạch hai năm khôi phục và phát triển kinh tế. Đến năm 1975, hầu hết các cơ sở kinh tế đã trở lại hoạt động bình thường. Năng lực sản xuất nhiều ngành kinh tế như công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ bản, giao thông vận tải... được tăng cường thêm một bước. Nhìn chung, sản xuất nông nghiệp và công nghiệp trên một số mặt quan trọng đã đạt và vượt mức năm 1965. Đời sống nhân dân được ổn định và cải thiện. Sự nghiệp giáo dục, văn hóa, y tế tiếp tục phát triển với tốc độ cao. Trong không khí tưng bừng, phấn khởi trước sự chuyển biến mạnh mẽ của cách mạng cả nước, theo tiếng gọi của Tổ quốc, thanh niên nô nức tòng quân, lên đường ra mặt trận. Hàng vạn thanh niên xung phong, cán bộ và nhân viên chuyên môn kỹ thuật cũng hăng hái vào Nam làm nhiệm vụ chống Mỹ.

Kết thúc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Bắc đi ngay vào công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; thực hiện đầy đủ và kịp thời mọi nghĩa vụ cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và nghĩa vụ quốc tế. Khẩu hiệu cách mạng chung của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh lúc này vẫn là: "Tất cả cho tiền tuyến", "Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược".

Để thực hiện được vai trò lãnh đạo của mình, Tỉnh ủy xác định công tác xây dựng Đảng giữ vị trí then chốt. Tháng 12 - 1974, Tỉnh ủy xây dựng và đi ngay vào việc tổ chức thực hiện chương trình kế hoạch công tác xây dựng Đảng, đưa công tác xây dựng Đảng lên vị trí hàng đầu.

Theo sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, trong các ngày 6 đến ngày 9 - 4 - 1973, Đại hội đại biểu Đảng bộ Lục Nam lần thứ IX đã được tổ chức với sự tham gia của 182 đại biểu. Đại hội đánh giá đúng mức những thành quả đã đạt được, xây dựng kế hoạch, phương hướng trong thời kỳ lịch sử mới,chuyển trọng tâm công tác từ thời chiến sang thời bình, trong đó việc phát triển kinh tế - xã hội, hoàn thành tốt các nghĩa vụ đối với sự nghiệp cách mạng của cả nước là nhiệm vụ quan trọng nhất. Đại hội đã bầu cử ra Ban Chấp hành mới gồm 22 ủy viên (2 dự khuyết) do đồng chí Đỗ Văn Sử làm Bí thư.

Đại hội Đảng bộ huyện quyết định phương hướng, nhiệm vụ chung của Đảng bộ nhiệm kỳ này là hoàn thành việc khôi phục kinh tế, văn hóa, xã hội sau chiến tranh, đẩy nhanh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, coi trọng và tổ chức thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và các đoàn thể nhân dân, thực hiện tốt công tác an ninh trật tự, công tác quân sự địa phương, thực hiện tốt nghĩa vụ đối với cuộc cách mạng của cả nước.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội, các cấp ủy Đảng cơ sở tập trung lãnh đạo chăm lo xây dựng chính quyền, xây dựng các đoàn thể quần chúng. Chính quyền các cấp hướng mọi hoạt động vào việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực công tác, không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý. Mặt trận và các tổ chức đoàn thể: Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Công đoàn, duy trì và tiếp tục đẩy mạnh các phong trào "Ba sẵn sàng", "Ba đảm đang", "Hai giỏi", "Ngàn việc tốt",...

Tháng 10 - 1974, Đại hội đại biểu Đảng bộ Lục Nam lần thứ X được triệu tập. Đại hội làm việc trong 4 ngày (từ 26 đến 29) với sự tham gia của 175 đại biểu thay mặt cho trên 3.000 đảng viên. Đại hội đánh giá việc thực hiện Nghi quyết Đại hội IX trên các mặt công tác, trong đó quan tâm nhấn mạnh những kết quả và yếu kém trong việc xây dựng, củng cố quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa, quản lý hợp tác xã, quản lý ruộng đất. Đại hội đề ra nhiều biện pháp công tác cho thời gian tiếp theo. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành nhiệm kỳ X gồm 25 ủy viên chính thức, 4 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Đỗ Văn Sử được tín nhiệm bầu lại làm Bí thư.

1. Đảng bộ lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hóa - giáo dục

Trong bối cảnh lịch sử mới mới, cùng với cả nước, Đảng bộ và nhân dân Lục Nam đã nghiêm chỉnh chấp hành lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam: "Tăng cường đoàn kết, luôn luôn đề cao cảnh giác, ra sức phấn đấu để củng cố những thắng lợi đã giành được, giữ vững hòa bình lâu dài, hoàn thành độc lập dân chủ ở miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc".

Để hoàn thành nhiệm vụ đề ra, Đảng bộ đặc biệt chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Cùng với việc quán triệt, thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương và Nghị quyết 37 của Tỉnh ủy, Đảng bộ chỉ đạo các các chi, đảng bộ xã kết hợp tổ chức cho nông dân xã viên học tập Điều lệ hợp tác xã nông nghiệp bậc cao và tiến hành củng cố hợp tác xã nông nghiệp. Qua các đợt học tập đã nâng cao một bước ý thức tự giác của người nông dân tập thể, nâng cao năng lực quản lý của các ban quản trị hợp tác xã, do vậy các hợp tác xã có những chuyển biến nhất định, làm ăn có hiệu quả hơn. Ban quản trị các hợp tác xã nông nghiệp được củng cố và phát huy vai trò quản lý và phát triển sản xuất. Xã viên tích cực lao động sản xuất xây dnựg hợp tác xã. Nhiều diện tích ruộng lấn chiếm được thu hồi, nhiều khoản nợ đọng được giải quyết.

Với phương châm hợp tác hóa gắn liền với thủy lợi hóa, phong trào làm thủy lợi, cải tạo ruộng đồng, hoàn chỉnh thủy nông được các hợp tác xã nông nghiệp thực hiện tích cực. Nhiều công trình thủy lợi, thủy nông được khởi công xây dựng, đưa vào sử dụng như: hồ Cây Đa, kênh Yên Lại.

Huyện hoàn thành kế hoạch đắp đê, tu sửa kè, cống, kết hợp công tác thủy lợi với việc làm đường giao thông, kinh tế với quốc phòng. Trong các hợp tác xã nông nghiệp, bà con nông dân còn tích cực áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Nhờ đó, kết quả sản xuất nông nghiệp có những bước phát triển mới.

Sau một thời gian củng cố, phong trào hợp tác xã nông nghiệp của Lục Nam tương đối ổn định, thu hút được nhiều hộ nông dân vào làm ăn tập thể. Quy mô hợp tác xã vẫn còn nhỏ, lao động chuyên môn hóa chưa phổ biến, còn gây nhiều trở ngại cho phương hướng sản xuất tập trung, chuyên canh và thâm canh tăng năng suất. Dưới đây là một số số liệu cụ thể về tình hình hợp tác xã trong 4 năm: năm 1972 có 16.767 hộ nông dân, vào hợp tác xã là 15.764 hộ đạt 98,5%; năm 1975 có 18.300 hộ, vào hợp tác xã là 16.969 hộ, đạt 98,9%.

Công tác thủy lợi và cải tạo đồng ruộng được thực hiện từ năm 1972, tập trung vào làm bờ vùng, bờ thửa, sửa sang lại độ chênh mặt ruộng, san gò, lấp trũng kết hợp với việc làm đường ra đồng ruộng để từng bước giải phóng đôi vai. Từ năm 1973, phong trào cải tạo đất chua, đất bạc màu, đất chiêm trũng đọng nước bị gờ-lây hóa, xây dựng bờ lô, bờ thửa, giải phóng bớt những thửa quá nhỏ để cơ giới hóa được thực hiện mạnh mẽ và đạt những hiệu quả nhất định.

Huyện đẩy mạnh công tác thủy lợi, với các công trình trọng điểm như: kênh Yên Lại, kênh Bảo Sơn, hồ Cây Đa cùng hệ thống trung thủy nông ở miền núi, ngoại đê, đã có 5.978ha được phục vụ tưới, trong đó kênh Yên Lại - Y8 tưới được 3.837 ha. Trong thực tế thì các công trình trên mới tưới được hai vụ lúa ăn chắc là 4.582ha, bằng 35,8% diện tích cach tác gồm:

- Kênh Yên Lại: 3.837 ha

- Hồ Cây Đa: 270 ha

- Trung thủy nông miền núi: 475 ha

Diện tích cả huyện hằng năm còn bị hạn chưa chủ động được nước là 8.204 ha bằng 64,1% tổng diện tích canh tác. Trong khi đó, mỗi năm huyện còn tới 4.570 ha (35,7%) diện tích canh tác bị úng tại các vùng ngoại đê Cương Sơn, Huyền Sơn, Cẩm Lý, Vũ Xá, Đan Hội và các vùng chiêm trũng Yên Sơn, Bắc Lũng, Lan Mẫu, Khám Lạng hoặc các vùng đọng nước lẻ tẻ thuộc Đông Hưng, Tiên Nha, Nghĩa Phương, Trường giang, Phương Sơn, Thanh Lâm. Do chưa có công trình tiêu úng nên kết quả sản xuất ở đây còn bấp bênh. Kênh tiêu Bảo Sơn ngăn dòng chảy từ ngàn Bảo Đài đưa nước ra sông Lục Nam qua ngòi Già Khê đã chống được nạn xói mòn rửa trôi cho vùng đồng mùa và giảm lượng nước úng cho vùng chiêm trũng trong đê.

Cả huyện trong thời kỳ này mới có 165 máy bơm dầu, 203 bình bơm thuốc trừ sâu nhưng thiếu phụ tùng thay thế. Máy kéo hoạt động kém hiệu quả vì địa bàn xấu, giao thông hạn chế, ruộng hẹp, năng suất thấp, chi phí tăng. Hoạt động của máy kéo chỉ mang tính hỗ trợ, chủ yếu vẫn phải dùng sức kéo của trâu bò. Năm 1974 có 553 ha dùng máy kéo, năm 1975 tăng lên 812 ha.

Tổng diện tích đất nông nghiệp của Lục Nam chiếm độ 24% đất đai tự nhiên. Năm 1973 đưa vào sử dụng 15.490 ha với hệ số sử dụng 1,21. Năm 1974 có 16.122 ha, hệ số sử dụng 1,24. Năm 1975 rút xuống còn 15.840ha, hệ số sử dụng 1,18. Diện tích lúa tăng dần qua các năm nhưng diện tích màu qui thóc còn bấp bênh. Năng suất cây trồng, năng suất lúa còn thấp tuy đã cố gắng lựa chọn, tiếp thu được những bộ giống thích hợp. Nguyên nhân là do công tác cải tạo đất còn yếu, phân bón ít (bình quân 1 ha mới có 3.200kg phân chuồng, 60 kg đạm vô cơ). Hệ quả này dẫn đến việc sản xuất lương thực bình quân đầu người giảm dần, kể cả mức đóng góp nghĩa vụ cho nhà nước. Bình quân lương thực theo đầu người hằng năm theo đầu người hàng năm: 1973 là 269kg; 1974 là 259 kh; 1975 là 251 kg. Trong đó năm 1973 cần có 220 kg thóc và 49 kg màu qui thóc; năm 1974 có 215 kg thóc và 4 kg màu qui thóc; năm 1975 có 212 kg thóc và 34 kg màu qui thóc. Năm 1973 lượng lương thực giao nộp cho Nhà nước là 3.143 tấn; năm 1974 là 2.749 tấn và năm 1975 là 2.943 tấn. Giá trị sản phẩm năm 1973 là 10,3 triệu đồng; năm 1974 là 10,4 triệu đồng và năm 1975 là 9,8 triệu đồng.

Chăn nuôi cũng ít có biến động vì tổng đàn trâu bò tăng giảm không đáng kể. Đàn trâu năm 1973 có 11.735 con, 1974 có 11.671 con, 1975 có 12.200 con. Đàn bò có từ 1.256 con đến 1.325 con.

Đàn lợn lên xuống không đều, dao động chừng 2.000 con. Năm 1974 chăn nuôi tập thể có 22 cơ sở với 1.154 đầu lợn nhưng sau đó giảm xuống nhiều. Do khó khăn về lương thực nên chăn nuôi lợn gia đình không phát triển, số hộ trắng chuồng tăng (1974 có 243 hộ, 1975 lên tới 1662 hộ), đầu lợn bình quân mỗi hộ do đó giảm từ 1,94 xuống còn 1,46 con. Tổng đàn lợn năm 1973 là 30.967 con, năm 1975 là 31.283 con. Tổng đàn gia cầm cũng giảm tới 50% trong mấy năm, riêng đàn vịt chăn nuôi tập thể giảm 10 lần và vịt đẻ giảm 20 lần. việc áp dụng kỹ thuật mới, lai tạo giống còn nhiều hạn chế.

Lục Nam có trên 600 ha mặt nước ao hồ và có thể tận dụng ruộng chiêm, sông ngòi nhưng nghề nuôi cá chưa được chú ý thích đáng. Mới chỉ có 0,2% trong tổng số lao động nông nghiệp làm nghề này (63 người), do đó chưa năm nào đạt sản lượng 2 tấn cá.

Cùng với việc phát triển kinh tế nông nghiệp, các địa phương cũng chú ý phát triển kinh tế lâm nghiệp. Đầu xuân hàng năm, các địa phương đều phát động phong trào trồng cây gây rừng. Nhiều hợp tác xã nông nghiệp thành lập tổ trồng cây, đội kinh doanh nghề rừng có hiệu quả.

Nghề rừng đứng trước một thực tế là rừng đã bị khai thác ngày càng cạn kiệt, trữ lượng gỗ và lâm sản thấp. Trong tổng số 10.706 ha rừng tự nhiên hiện có thì 4.758 ha là rừng trung bình, 2.498 ha rừng nghèo, 4.363 ha rừng non, 1.918 ha rừng tái sinh, 262 ha rừng tre nứa, 1.008 ha rừng phòng hộ. Công tác trồng cây gây rừng chưa mạnh. Năm 1974 trồng được 452 ha, năm 1975 được 943 ha. Việc tu bổ rừng cũng được chú ý: năm 1973 được 270 ha, năm 1974 là 320 ha và năm 1975 là 450 ha. Khai thác gỗ năm nào cũng hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch nhưng không đúng quy trình kỹ thuật, không đi đôi với việc bảo vệ. Nạn đốt rừng, phá rừng làm nương rẫy chưa có biện pháp ngăn chặn. Kết quả khai thác lâm nghiệp cho thấy năm 1973 được 19.421m3 gỗ, 14.364 ste củi, 224.589 cây tre nứa ; năm 1974 là 14.397m3 gồm 12.271 ste củi và 1.298.589 cây tre nứa ; năm 1975 là 20.692m3 gỗ, 9.558 ste củi và 1.472.274 cây tre nứa.

Vào năm 1973, các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các ngành sản xuất kinh doanh dịch vụ từ nơi sơ tán chuyển về địa điểm cũ và từng bước đi vào sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, các địa phương trong tỉnh cũng xây dựng thêm nhiều cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, kinh donah dịch vụ. Giá trị tổng sản lượng tiểu thủ công nghiệp của huyện tăng đều hàng năm. Mạng lưới thông tin liên lạc, đường sá, cầu cống được khôi phục và làm mới. Các hoạt động tài chính tín dụng, ngân hàng đi dần vào hạch toán kinh tế, kinh doanh xã hội chủ nghĩa, tạo thuận lợi cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của huyện.

Tiểu thủ công nghiệp của Lục Nam điển hình là xí nghiệp cơ khí 3 - 2 chuyên sản xuất công cụ cầm tay và đồ dùng gia đình. Ngoài ra còn có các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm, tre đan, may mặc...

Mạng lưới thương nghiệp với hệ thống hợp tác xã mua bán được triển khai từ sớm nên khá hoàn chỉnh và đều khắp. Hệ thống bán lẻ có 4 cửa hàng cấp huyện và 40 của hàng cấp xã. Ngành thương nghiệp quốc doanh có cửa hàng bách hóa, điện máy xăng dầu, công nghệ phẩm, ăn uống phục vụ, thực phẩm tươi sống đặt tại trung tâm huyện và cửa hàng khu vực đặt ở Mai Sưu, Sàn, chợ Sa để phục vụ nhân dân.

Qua nhiều năm chiến tranh nên lĩnh vực xây dựng và phát triển  kinh tế của Lục Nam cho thấy nhu cầu xây dựng cơ sở vật chất vẫn hết sức cấp bách. Ngành thủy lợi chưa giải quyết được hạn, úng. Các ngành phục vụ nông nghiệp như vật tư nông nghiệp, cơ khí, máy kéo, giao thông, điện lực chưa có hoặc chưa phục vụ tích cực, có hiệu quả. Hệ thống nhà kho sân phơi, các trạm trại giống cây con, bảo vệ thực vật còn rất nghèo nàn. Kinh tế còn phát triển mất cân đối về các mặt sức lao động, vốn đầu tư, lương thực cho người và chăn nuôi. Trong thực tế sự phân công lao động cho chăn nuôi, lâm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chưa rõ rệt do đó năng suất lao động và hiệu quả kinh tế thấp.

Về giá trị sản lượng thì hai ngành sản xuất lâm nghiệp, thủ công nghiệp có tăng lên với tốc độ chậm nhưng về yêu cầu phát triển thì hai ngành này còn quá nhỏ bé so với yêu cầu của huyện. Trong lâm nghiệp thì trồng và bảo vệ rừng yếu, khai thác không đảm bảo quy trình kỹ thuật dẫn tới diện tích vùng nghèo kiệt ngày một tăng.

Tuy vậy, cũng có một số hợp tác xã làm ăn giỏi đạt năng suất vụ mùa khá như Trường Sơn 24,2 tạ, Tiên Sơn 21,3 tạ, Phương Sơn 21,3 tạ/ha. Giống nông nghiệp 5, nông nghiệp 8 cấy vụ mùa ở Tần Dân Nguyên (Đông Hưng) đạt 36,1 tạ, ở Đại Từ và Hồ Giàng đạt 26,3 tạ, ở Phương Lạn đạt 25 tạ, ở Mai Sưu đạt 24,6 tạ/ha. Trong năm 1974 có 3 hợp tác xã Mai Sưu, Am Sang và Vinh Quang đạt năng suất 5 tấn/ha. Trong thời kỳ này đây là một kết quả đáng biểu dương của huyện.

Phong trào giáo dục của Lục Nam phát triển khá mạnh. Đây là một nét tiêu biểu của Lục Nam. Toàn huyện có một trường phổ thông cấp 3, trường vừa học vừa làm cấp 3, trường thanh niên dân tộc, 1 trường bổ túc văn hóa tập trung. Mỗi xã đã có một trường phổ thông cấp 1, 2. Hợp tác xã nào cũng có lớp mẫu giáo, vỡ lòng. Tính chung cứ 3 người dân trong huyện có một người đi học. Thống kê trong 3 năm:1973 cấp 1 có 26 lớp với 440 học sinh, cấp 2 có 20 lớp với 118 học sinh, cấo 3 có 1 lớp với 9 học sinh. Năm 1975, cấp 1 có 26 lớp với 501 học sinh, cấp 2 có 25 lớp với 180 học sinh, cấp 3 có 1 lớp với 14 học sinh.

Đội ngũ giáo viên ngày một tăng cường. Năm 1973 cả huyện có 968 thày cô giáo (18 mẫu giáo, 185 vỡ lòng, 484 cấp 1, 206 cấp 2, 75 cấp 3). Năm 1975 tổng số có 1.183 cô giáo (25 mẫu giáo, 182 vỡ lòng, 568 cấp 1, 316 cấp 2, 92 cấp 3)[26]. Năm 1973 trường Thanh niên dân tộc có 5 lớp, 110 học sinh, 14 giáo viên, đến năm 1975 có 7 lớp, 104 học sinh, 12 thầy cô giáo. Trường bổ túc văn hóa tập trung và bổ túc văn hóa tại chức đến năm 1976 mới hoạt động.

Do miền Bắc đã chấm dứt chiến tranh phá hoại nên công tác văn hóa tập trung vào việc xây dựng phong trào nếp sống văn minh, gia đình văn hóa mới, đấu tranh chống các tập quán lạc hậu, bài trừ mê tín dị đoan. Phong trào văn nghệ quần chúng phát triển rộng rãi nối tiếp phong trào “Tiếng hát át tiếng bom” trước đây. Năm 1973 có 9 tổ thông tin hợp tác xã hoạt động tốt, năm 1973 chỉ còn 5 đội, do đó kéo theo sự giảm sút các thông tin viên: từ 64 người (1973) còn 45 người (1975). Số loa truyền thành công cộng từ 165 chiếc (1973) còn 90 chiếc (1975). Cả huyện có 1 hiệu sách, 1 thư viện, 2 đội chiếu bóng và 16 đội văn nghệ nghiệp dư.

Ngành y tế đã có những tiến bộ đáng khích lệ. Lục Nam có 2 bệnh viện (1 ở khu vực trung tâm, 1 phần viện ở Mai Sưu), các xã đều có trạm xá và cán bộ phụ trách vệ sinh phòng bệnh. Trung bình cứ 1.000 người dân có 4 cán bộ y tế phục vụ và 3 người bệnh. Hằng năm có hàng ngàn lượt người được khám chữa bệnh. Dưới đây là một vài số liệu thể hiện sự tiến bộ của ngành y tế:

 

                                               Năm

Danh mục

1973

1974

1975

Số giường bệnh (bác sĩ, dược cao)

50 (2)

50 (6)

80 (6)

Y sĩ, dược sĩ (y tá, dược tá)

17 (19)

23 (24)

20 (24)

Y bác sĩ ở cơ sở (số giường trạm xá)

25 (154)

28 (154)

26 (183)

Y sĩ, y tá phòng bệnh (hộ sinh)

226 (46)

226 (50)

210 (53)

Số người được điều trị

7.455

6.656

7.435

 

Chỉ trong 3 năm, sự nghiệp giáo dục, văn hóa và y tế ở Lục Nam đã tiến bộ vượt bậc, đạt nhiều thành tích to lớn trong khi nền kinh tế ở địa phương phát triển với tốc độ chưa đáp ứng yêu cầu của người dân.

2. Đảng bộ lãnh đạo giữ vững an ninh quốc phòng, chi viện sự nghiệp giải phóng miền Nam

Sau hiệp định Pari năm 1973, miền Bắc có hoà bình, song công tác an ninh trật tự, công tác quân sự địa phương vẫn là những nhiệm vụ quan trọng.

Hàng năm, ngành công an tập trung nhiều công sức để duy trì và phát triển phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Bị thất bại, nhưng đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch vẫn dùng nhiều thủ đoạn gây chiến tranh tâm lý, kích động, thực hiện các hoạt động gây rối chống phá ta. Lực lượng công an huyện đã hịp thời phát hiện, ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả chống các loại tội phạm, giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn.

Nhiệm vụ trọng tâm công tác quân sự địa phương thời kỳ này là tập trung xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, sẵn sàng chiến đấu, tham gia giữ gìn an ninh trật tự, tiếp tục làm tốt công tác tuyển quân chi viện cho tiền tuyến, giữ vững vị trí nòng cốt của lực lượng dân quân, tự vệ trong sản xuất, công tác và tham gia thực hiện tốt công tác hậu phương quân đội.

Giữ vững an ninh quốc phòng là một truyền thống tốt đẹp của đảng bộ và nhân dân Lục Nam. Chiến tranh tuy đã chấm dứt ở miền Bắc nhưng vẫn còn để lại nhiều hậu quả nặng nề. Nhiều bom từ trường, bom nổ vẫn còn rải rác trên các trục đường giao thông, dưới lòng sông, đồng ruộng, khu dân cư đe dọa đến tài sản, tính mạng và ảnh hưởng đến lao động sản xuất của nhân dân. Do đó, nhiệm vụ rà phá, tháo gỡ bom đạn trở thành nhiệm vụ cấp bách. Nhờ sự hỗ trợ của công binh, lực lượng tự vệ xí nghiệp vận tải đường sông Hà Bắc, toàn bộ bom từ trường của địch từ bến phà Lục Nam đi Phả Lại đã được rà phá tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại trên sông.

Ở miền Nam, sự nghiệp giải phóng chưa hoàn thành, kẻ thù vẫn tìm mọi cách chống phá cách mạng. Yêu cầu cho viện cho chiến trường ngày càng lớn, do đó công tác tuyển quân gọi thanh niên lên đường nhập ngũ vẫn thường xuyên được đảng bộ quan tâm. Năm nào Lục Nam cũng hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu được giao, đwocj tỉnh biểu dương.

Tiên Hưng là xã điển hình toàn huyện về công tác tuyển quân. Đông Hưng và Lục Sơn là hai xã làm công tác tuyển quân thấp nhất huyện.

Trong suốt 11 năm (1965 - 1975), cả huyện có 55 lượt xã và 10 xã đạt danh hiệu Quyết thắng, trong đó có 10 xã chưa đạt danh hiệu này lần nào. Hai đơn vị quyết thắng điển hình của Lục Nam là xã Bảo Đài - 10 năm liền (1966 - 1975), xã Cẩm Lý 9 năm liền (1967 - 1975). Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, xã Nghĩa Phương đạt được nhiều thành tích to lớn, được Quốc hội tuyên dương là đơn vị anh hùng (31-12-1973).

Lực lượng dân quân du kích vẫn được duy trì và phát triển, luôn luôn chiếm tỷ lệ 8% (1973) đến 8,6% (1974) dân số, được tổ chức huấn luyện chu đáo, đạt yêu cầu chất lượng. Đơn vị du kích tập trung của huyện vẫn được duy trì và củng cố, được luyện tập tốt theo phương án tác chiến đã vạch ra, tinh thần chiến đấu luôn luôn được nâng cao. Công tác hậu phương quân đội được chăm lo chu đáo. Bảo Đài là xã điển hình thực hiện tốt công tác này. Nhân dân Lục Nam tiễn đưa con em lên đường đánh giặc trong đó có nhiều người con tham gia chiến đấu dũng cảm trên chiến trường miền Nam và khắp các chiến trường khác. Gia đình bộ đội đã chiếm 65% tổng số hộ trong toàn huyện, có tới 19 gia đình có 5 con nhập ngũ, 62 gia đình có từ 3 -4 con, 316 gia đình có 2 con và 37 gia đình chỉ có một con trai duy nhất. Có 1 gia đình có 4 con liệt sĩ[27], 1 gia đình 3 con, 86 gia đình 2 con và 30 gia đình có 1 con duy nhất[28].

Vinh dự cho Đảng bộ và nhân dân Lục Nam, trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chi viện cho sự nghiệp giải phóng miền Nam đã có nhiều chiến sĩ thi đua, dũng sĩ quyết thắng, dũng sĩ diệt Mỹ và có 1 anh hùng quân đội là đồng chí Tô Quang Lập.

Đồng chí Tô Quang Lập, dân tộc Kinh, quê xã Nghĩa Phương, sinh năm 1943, tham gia quân đội năm 1964. Đồng chí đã tham gia 35 trận đánh trên khắp các chiến trường Nam Lào, Hạ Lào và miền Nam. đặc biệt là trận đánh trên đường số 12 Quảng Nam - Đà Nẵng, đồng chí đã cùng đồng đội diệt 14 xe tăng, 2 xe ủi, diệt 28 lính Mỹ, Úc. Trận đánh sân bay Khâm Đức, cùng tham gia diệt 3 máy bay, 300 địch (có 100 lính Mỹ) phá hủy 4 xe bọc thép, 2 xe ủi. Bị sức ép của bom đạn, đồng chí được chuyển ra Bắc, tham gia vào đội công binh giao thông chiến lược, lăn lộn suốt 1.500 ngày đêm trong bom đạn của kẻ thù. Đồng chí đã 3 lần được nhận danh hiệu Chiến sĩ thi đua, hai lần là Dũng sĩ diệt Mỹ và Dũng sĩ diệt xe tăng. Ngày 22 - 12 - 1969, đồng chí Tô Quang Lập – Đại đội phó đại đội 1, tiểu đoàn 1, binh trạm 44, đoàn 559, được Quốc hội tuyên dương anh hùng các lực lượng vũ trang.

Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang mà đồng bào các dân tộc Lục Ngạn, Bảo Lộc, Phượng Nhỡn đã chung lưng đấu cật xây dựng nên.  Trong những năm 1973-1975, Đảng bộ và nhân dân Lục Nam đã vượt qua biết bao khó khăn gian khổ, đoàn kết một lòng vừa phát triển sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa trên quê hương vừa cùng cả miền Bắc dốc sức chi viện cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong quá trình lãnh đạo, Đảng bộ Lục Nam có bước trưởng thành về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Những chiến công và thành tích trong sản xuất và chiến đấu những năm 1973-1975 đã tạo ra những tiền đề vật chất và tinh thần để Đảng bộ và nhân dân Lục Nam vững bước đi lên, giành nhiều thành tích to lớn trong thời kỳ cách mạng mới, xây dựng quê hương ngày một mạnh giàu.

                                                           

 

 

KẾT KUẬN

Lục Nam là vùng quê giàu truyền thống yêu nước, nhân văn và thượng võ, bất khuất, kiên cường chống các thế lực ngoại xâm, phản động, lạc hậu, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất. Trong sự nghiệp cách mạng giành chính quyền và kháng chiến bảo vệ nền độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, những truyền thống quý báu đó của nhân dân các dân tộc Lục Nam được nhân lên gấp bội, nâng lên tầm cao mới, chiều sâu mới.

Ngay khi thực dân Pháp đưa quân đánh chiếm vùng đất quê hương, nhân dân đã vùng lên khởi nghĩa, ngăn cản công cuộc bình địch của thực dân Pháp trên vùng đất chiến lược này. Bị thực dân và tay sai đàn áp, thắt chặt ách kìm kẹp, lòng yêu nước, chí căm thù không bị mai một, thui chột mà ngày càng nỗi căm thù ngày càng thêm chất chứa, được hun đúc thêm sục sôi, để khi có ánh sáng của Đảng soi rọi tới, nó bùng cháy lên thành phong trào mạnh mẽ, đạp đổ ách áp bức, thống trị thực dân phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Lục Nam trở thành một trong những địa phương giành chính quyền sớm trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 (ngày 20-7-1945).

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), dưới sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng, nhân dân các xã trên địa bàn Lục Nam đã thực hiện đường lối kháng chiến của Đảng, thực hiện tiêu thổ kháng chiến, anh dũng chiến đấu trong lòng địch, xây dựng vùng du kích, làm thất bại kế hoạch xây dựng vành đai trắng, góp phần cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đánh bại các chiến lược chiến tranh của địch, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.  

Trong những tháng ngày cùng với nhân dân cả nước nỗ lực phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn, thử thách để khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, Đảng bộ huyện Lục Nam ra đời, lãnh đạo nhân dân, bắt tay vào thực hiện cải tạo, xây dựng xã hội chủ nghĩa, đóng góp vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

 Phát huy những tiền đề được tạo ra trong kháng chiến chống thực dân Pháp, những thành tựu quan trọng, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ hậu phương cho tiền tuyến đánh Mỹ, Đảng bộ và nhân dân Lục Nam đã xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, từng bước đầu tư tăng cường với quy mô lớn. Kết cấu hạ tầng được đầu tư lớn, từng bước hoàn chỉnh hệ thống thuỷ nông, thuỷ lợi và giao thông, đảm bảo tưới tiêu chủ động, khoa học. Quá trình cải tạo ruộng đất, mở rộng diện tích canh tác đạt nhiều kết quả. Trình độ mọi mặt của đội ngũ cán bộ, lao động được nâng cao. Trên địa bàn Lục Nam với ngành nghề đa dạng, hàng năm sản xuất khối lượng sản phẩm lớn, đạt tốc độ tăng trung bình cao, không chỉ cung cấp cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của địa phương và phục vụ cho công tác chi viện cho chiến trường miền Nam.

Thực hiện kế hoạch cải tạo xã hội chủ nghĩa, Lục Nam đã xác lập căn bản quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Kinh tế quốc doanh dựa vào sự bao cấp từ Nhà nước, đạt mức tăng trưởng cao hàng năm và giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế. Kinh tế tập thể chủ yếu là hợp tác xã nông nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ, vận tải, được đặt dưới sự chỉ đạo của Nhà nước.

Trong điều kiện chiến tranh, cơ chế kinh tế kế hoạch hoá mặc dù bắt đầu bộc lộ những hạn chế, nhưng đã phát huy vai trò tích cực và tác dụng to lớn trong hoàn cảnh thời chiến, đáp ứng tối đa yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ hậu phương lớn miền Bắc và chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.

Mặc dù trong quá trình cải cách ruộng đất có những sai lầm, thể hiện tư tưởng chủ quan, nóng vội, duy ý chí, những mục tiêu kinh tế của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, trên thực tế, đã không đạt được,… nhưng về mặt cải biến xã hội, đã đạt được những thành tựu lớn lao. Những biến đổi trong đời sống vật chất và tinh thần đã tạo nên một sắc thái mới, diện mạo mới của đời sống xã hội. Trong một thời gian ngắn, từ một vùng địch tạm chiếm, vành đai trắng và hậu cứ bị tàn phá nặng nề, hậu quả chiến tranh về kinh tế - xã hội lớn, Lục Nam đã có hệ thống cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng cung cấp dịch vụ cơ bản trên diện rộng như giáo dục, y tế và các thiết chế văn hoá ở cơ sở.

Lối sống văn hoá mới, văn minh, nhân ái ngày càng thể hiện rõ nét trong đời sống xã hội. Sự bình đẳng xã hội từng bước được bảo đảm, khoảng cách giữa vùng thấp với vùng cao được thu hẹp dần. Những thành tựu đó tạo nên một khí thế mới, là động lực to lớn, là nền tảng vật chất và tinh thần thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước, phát huy tinh thần cần kiệm, tự lực cánh sinh xây dựng quê hương ấm no, giàu đẹp.

Trong thời kỳ cách mạng mới, với thành công của công cuộc xây dựng quan hệ sản xuất mới, nền văn hoá mới và toàn xã hội hướng vào các phong trào thi đua yêu nước là cơ sở để khối đoàn kết toàn dân được củng cố và nâng lên tầm cao mới, sức mạnh toàn dân được huy động cao độ, tạo nên nguồn nội lực lớn lao, khắc phục mọi khó khăn, thử thách, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ quê hương, góp phần bảo vệ miền Bắc chi viện miền Nam.

Công tác an ninh quốc phòng đạt nhiều thành công. Các lực lượng vũ trang phát triển nhanh về số lượng, tăng cường về trang bị kỹ thuật, được luyện tập sẵn sàng đánh bại với mọi âm mưu thủ đoạn chống phá của đế quốc Mỹ và tay sai.

Lực lượng vũ trang địa phương gồm bộ đội, công an và lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp, cùng các đơn vị chủ lực đóng trên địa bàn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội.

Thực hiện đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, quân và dân Lục Nam bước đầu làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, làm trong sạch địa bàn, bảo vệ vững chắc an ninh quốc phòng.

Quá trình thực hiện đường lối cải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội là quá trình tìm tòi, thử nghiệm. Bên cạnh những thành tựu lớn lao nổi bật, những điển hình thành công, đạt hiệu quả cao trong phát triển sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, nâng cao đời sống... là những vấp váp, khuyết điểm không tránh khỏi. Công cuộc củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất trong sản xuất nông nghiệp đã hạn chế quá mức tính chủ động sáng tạo của các cá nhân, gây nên sự trì trệ, thụ động ỷ lại,... Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã không thực hiện được.

Kinh tế quốc doanh và tập thể được xác lập, đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Do tập trung chủ yếu vào củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới trong khi trình độ, năng lực quản lý, cơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp đã gây ra tình trạng lúng túng, mất cân bằng, hiệu quả thấp.

Trải qua gần 20 năm lãnh đạo, tổ chức phong trào cách mạng của quần chúng (1957-1975), Đảng bộ, chính quyền và Mặt trận và các đoàn thể quần chúng đã có sự trưởng thành nhanh chóng, thể hiện ngày càng rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình.

Đạt được kết quả như vậy là do Đảng bộ, chính quyền Lục Nam đã quán triệt, vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng vào tình hình cụ thể của địa phương, lãnh đạo, vận động toàn quân, toàn dân phát huy truyền thống yêu nước, cách mạng, đoàn kết phấn đấu thúc đẩy phong trào hành động cách mạng tại địa phương.

Trong những năm 1965-1975, huyện tuyển 8511 người vào bộ đội; 3320 người vào dân công hỏa tuyến, so với kế hoạch đều đạt và vượt chỉ tiêu được giao. Ở Bảo Đài, có gia đình cụ Nguyễn Thị Gạo có 7 người con, gia đình ông Nguyễn Văn Tham có 6 người con nhập ngũ. Trong huyện có 81 gia đình có từ 3-5 người con nhập ngũ, 316 gia đình có 2 con và có 37 gia đình có 1 người con duy nhất nhập ngũ. Trên khắp các chiến trường, những người con của đất Lục Nam đã chiến đáu kiên cường, trong đó 2558 người đã anh dũng hy sinh, trong đó có gia đình có 4 người con, 4 gia đình có 3 người con , 86 gia đình có 2 con và 30 gia đình có 1 con duy nhất, là liệt sĩ; toàn huyện có 1300 bệnh thương binh.

Với những thành tích to lớn trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng bộ, quân dân Lục Nam được Đảng và Nhà nước tặng thưởng 30 Huân chương chiến công, 40 Huân chương kháng chiến, 3 Huân chương quân công, 25 Huân chương lao động các loại và rất nhiều phần thưởng cao quý khác cho tập thể và cá nhân; Ban chỉ huy quân sự Huyện 7 năm liền đạt danh hiệu Đơn vị quyết thắng, trong đó có 3 năm liền là đơn vị Lá cờ đầu Quân khu I trong phong trào thi đua Quyết thắng. Trong công cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, huyện Lục Nam có 5 xã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 1 các nhân được tặng thưởng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 1 Anh hùng lao động; 39 bà mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Ngày 15-8-2003, nhân dân và lực lượng vũ trang xã Trường Sơn được Chủ tịch nước Quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân[29].

Mười tám năm (1957-1975) là thời đoạn lịch sử vô cùng sôi động, của Đảng bộ, quân và dân Lục Nam. Những thành tựu to lớn, toàn diện mà Lục Nam đạt được trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ này là cực kỳ quan trọng. Đó là nền tảng vững chắc, tạo thế đứng vững vàng để Lục Nam đạt được những thắng lợi mới trong những thời kỳ tiếp theo.

 

PHỤ LỤC

 

[1] . Truyền thuyết này, sách ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ chép có phần khác hơn: “Ở sơn phận thôn Yên Phú huyện Phượng Nhỡn, tương truyền có một bà mẹ ở một mình tại chân núi, thấy dấu vết người to lớn, bà xéo vào, nhân đấy có mang. Sau đó đẻ được một bọc, trong đó có 3 người con. Một hôm mưa to gió lớn, bỗng trên trời có tiếng nói: “Khâm mệnh truyền cho 3 con và một mẹ phúc thần Bắc Lũng bay lên trời!”. Sau khi mưa tạnh, người trong hương ra núi, thấy sườn núi Yên Phú mở ra ba cái hang đá, sâu suốt đến bến Xuân Giang, rồi từ đấy hiển linh, nhân dân địa phương do đấy lập đền thờ”.

 

[2] Hồ Chí Minh Toàn tập, CTQG, H, 2000.

[3] Hồ Chí Minh Toàn tập, CTQG, H, 2000, T. 4.

[4] Đồng chí Lan Cường, Phương Minh Nam vẫn giữ chức vụ cũ

[5] Tr­ường - Chinh: "Kháng chiến nhất định thắng lợi", In trong sách Cách mạng dân tộc dân chủ nhân  dân Việt nam, Tập II.

Nxb ST
, H, 1975, tr. 27.

 

[6] Sđd, tr.134

1 Lúc này kè sông Chợ Sa đã bị lũ cuốn trôi.

1 Khu 12 gồm Bắc Giang, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Hải Ninh, Hòn Gai, Quảng Yên (gồm cả Đông Triều và Chí Linh).

1 Trận này 162 người bi tàn sát. Nhiều gia đình bị giết hết

1 Tổ chức quân sự của Pháp trong vùng tạm chiếm gồm khu (Secteur) với nhiều phân khu (Sour Secteur) họp thành, dưới phân khu là các tiểu khu (quartier), dưới tiểu khu là các vị trí thuộc khu Bắc-Bắc độc lập có 3 phân khu: -Phân khu Phủ Lạng Thương – Phân khu Đáp Cầu – Phân khu Phủ Lỗ.

1 Trích Nghị quyết Tỉnh uỷ, Tài liệu lưu trữ tại Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ.

[7] Riêng làng Già Khê nơi địch đóng vị trí là tề phản động. Chánh, phó tổng, lý phó trưởng các làng Thanh Giã, Phú Yên, Nhật Đức làm tay sai cho Pháp chống phá phong trào kháng chiến ở địa phương.

1 Ban tề trên danh nghĩa làm việc cho Pháp nhưng vẫn liên lạc chịu sự chỉ đạo, chi phối của ta.

1 Loại A tề phản động, loại Bê tề lừng chừng.

2 Tháng 9-1950 trong lúc làm nhiệm vụ không may bị bắt, kẻ thù tra tấn dã man nhưng đồng chí kiên quyết không khai. Giữa phiên chợ Sa địch chặt chân, chặt tay đồng chí nhằm uy hiếm tinh thần nhân dân. Dù bị đau đớn đồng chí vẫn cảnh cáo thực dân xâm lược, kêu gọi đồng bào đứng lên tranh đấu. Biết không khuất phục được ý chí người cộng sản, chúng đã đem đồng chí ra bắn. Tấm gương dũng cảm của đồng chí Hãnh đã để lại những ấn tượng tốt đẹp trong lòng nhân dân địa phương.

3 Thời gian này địch chuyển quartier DoiNgo (tiểu khu Đồi Ngô) thành quartier LucNam (tiểu khu Lục Nam) vẫn thuộc phân khu Phủ Lạng Thương.

[8] Báo cáo vùng tạm chiếm – Tỉnh uỷ Bắc Giang số 122 BC/BG – ngày 5.10.1951 do đồng chí Trần Trung Bí thư tỉnh uỷ ký.

[9] Trích Nghị quyết Tỉnh uỷ, Tài liệu lưu trữ Ban Tuyên giáo tỉnh.

1 Báo cáo Hội nghị tạm chiếm 7-1951, Tỉnh uỷ Bắc Giang lưu trữ: TL 169-C1 + 6 – trang 22-c.

1 Sau đó một đồng chí thoát khỏi tay giặc, một đồng chí bị chúng giết hại.

1 Về mặt hành chính trong vùng tạm chiếm địch cũng không đặt cấp tỉnh Bắc Giang mà đặt các quân Lục Ngạn, Lạng Giang, Việt Yên… dưới chỉ huy của tỉnh trưởng Bắc Ninh.

1 D. 28 phiên hiệu hoạt động của tiểu đoàn 61 bộ đội chủ lực tỉnh Bắc Giang

[10] Du lích Cổ Mân – Yên Sơn gồm các đồng chí : Thị, Nuôi, Miên, Bé, Theo…

1 Đường từ Phả Lại qua phố Lục Nam đến Kép (Lạng Giang) nối đường 18 với đường quốc lộ 1A.

[11] . Văn kiện Đảng Toàn tập, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Tập 12, tr 190, H, 2000

[12]. Xã Bắc Lũng có 254 người mắc bệnh sốt rét

[13] . Xã Lan Mẫu có 495 mẫu ruộng hoang trong tổng số 2.304 mẫu.

[14]. Số liệu được tập hợp sau khi đã có huyện Lục Nam. Ký hiệu ↑ là địa chủ thường lên.   ↓ địa chủ cường hào xuống. Riêng địa chủ kháng chiến có 2 trước là địa chủ cường hào, 18 là địa chủ thường.

[15] Huyện có 19 xã, bao gồm: Nam Sơn dân số 4.811 người, Cẩm Lý dân số 1.667 người, Vũ Xá dân số 1.718 người, Dân Hội dân số 2.290 người, Yên Sơn A dân số 2.023 người, Bắc Lũng dân số 3.879 người, Yên Lũng dân số 3.787 người, Bảo Đài dân số 2.124 người, Hoà Binh A dân số 3.410 người, Bảo Sơn dân số 2.845 người, Tiên Hưng dân số 1.516 người, Tân Lập, dân số 2.300 người, Tam Dị dân số 3.050 người, Phương Sơn dân số 1.912 người, Hoà Bình B dân số 1.997 người, Yên Sơn B dân số 2.207 người, Mỹ An dân số 2.084 người, Nghĩa Phương dân số 2494 người và Trường Sơn dân số 3.257 người.

 

[16] . Đầu năm 1958, đồng chí Bùi Văn Khuể chuyển công tác về Hải Phòng, Tỉnh uỷ Bắc Giang cử đồng chí Nguyễn Xuân Tống về thay

[17] . Ban Thường vụ có 5 uỷ viên, đồng chí Nguyễn Long - Chủ tịch Uỷ ban hành chính huyện được cử vào Ban Thường vụ

[18] . Chia ra: 1958: lúa chiêm xuân 3.250,8 ha, lúa mùa: 7.268,97 ha; 1959:  lúa chiêm xuân 3.228,2 ha, lúa mùa: 7.012,69 ha; lúa chiêm xuân 3.323,4 ha, lúa mùa: 7.853,97 ha

[19] . Năm 1958, bọn Thắng Hương, Nhị Chấn ở Suối Ngà (Xa Lý, Lục Ngạn) chạy lên rừng câu kết với bọn phản động từ Trung Quốc sang, gây rất nhiều tội ác.

[20] . Các chum này đều có 3 chữ VŨ XÁ ĐỊA bằng văn phạm tiếng Hán

[21] Các ủy viên trong Ban chấp hành được phân công nhiệm vụ như sau: Đồng chí Nguyễn Xuân Tống, Bí thư huyện ủy; Đỗ Văn Sử, Phó Bí thư, Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện;  Nguyễn Văn Quỳ, Phó Bí thư Thường trực, Kiêm trưởng ban Tổ chức Huyện ủy; Nguyễn Văn Thuyết, Ủy viên Thường vụ, Phó Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện; Nguyễn Văn Viễn, Ủy viên Thường vụ, Phó Chủ tịch Ủy ban hhành chính huyện, Nguyễn Văn tưởng, Ủy viên Thường vụ, Trưởng Ban tuyên huấn Huyện ủy; Hoàng Thị Tâm, Ủy viên thường vụ, Hội trưởng Hội phụ nữ huyện; Phạm Văn Nhâm, Huyện ủy viên, Bí thư xã Bảo Đài; Nguyễn Thị Ủn, Huyện ủy viên, Phó Chủ tịch UBHC huyện; Nguỹen Thị Thông, Huyện ủy viên, Phó Phòng nông nghiệp; Đỗ Văn Cấn, Huyện ủy viên, Phó phòng nông nghiệp; Nguyễn Văn Khôi, huyện ủy viên, Trưởng Ban kiểm tra Huyện ủy; Nguyễn Văn Hoành, Huyện ủy viên, Bí thư Huyện Đoàn; Nguyễn Văn Tình, HUV, Phụ trách khối Lâm nghiệp; Nguyễn Thị Hòe, HUV, Phái viên Huyện ủy; Nguyễn Hoàng Dương, HUV, Giám đốc lâm trường Mai Sơn; Đặng Quốc Cung, HUV, Phái viên Huyện ủy; Nguyễn Đức Nhàn, HUV, Phó ban Tổ chức Huyện ủy;  Bàn Văn Phan, Ủy viên thường vụ, Phó Chủ tịch UBHC, Phụ trách phân huyện; Vũ Văn Đài, HUV, Phái viên Huyện ủy; Hoàng Đọc, Ủy viên Thường vụ, Chính trị viên Huyện đội; Nguyễn Văn Nghiêm, HUV, Trưởng Công an huyện; Nguyễn Thị Khúc, HUV, Phó phòng chăn nuôi; Trạc Văn Nội, HUV dự khuyết, Bí thư Đảng bộ Bình Sơn; Tạ Thị Lại, HUV dự khuyết, Phái viên Huyện ủy.

[22] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, T.10, tr.726-727

[23] Hồ Chí Minh Toàn Tập, CTQG, H.1996, Tập 10, tr.730-731

[24] Được phân công như sau: Nguyễn Hữu Kỳ, Bíthư Huyện ủy; Đỗ Văn Sử, phó Bí thư, chủ tịch UBHC huyện; Nguyễn văn thuyết là Phó Bí thư là thường trực, kiêm trưởng Ban tổ chức, và Tuyên huấn; Nguyễn Văn Viễn, Ủy viên thường vụ, Phó chủ tịch UBHC, Phụ trách phân huyện; Nguyễn Thị Khúc, Ủy viên Thường vụ, Phó chủ tịch UBHC huyện, Phụ trách tài mậu; Nguyễn Văn Tưởng, Ủy viên thường vụ, Trưởng Ban kiểm tra Huyện ủy; Nguyễn Văn Tình, HUV, Phó chủ tịch UBHC huyện, Phụ trách lâm nghiệp, Nguyễn Hoàng Dương, HUV, Giám đốc lâm trường Mai Sơn; Nguyễn Đức Nhàn, HUV, Phó ban Tỏ chức Huyện ủy; Nguyễn Văn trung, HUV, Huyện đội trưởng; Ninh Đắc Thỏa, HUV, Trưởng công an Huyện; Phạm Văn Nhân, HUV, Trưởng Phòng Thủy lợi; Đỗ Văn cấn, HUV, Phó phòng Nông nghiệp, Hoàng Thị Tâm, HUV, Hội trưởng phụ nữ huyện; Nguyễn Văn Hoành, HUV, Bí thư Huyện đoàn; Nguyễn Thị Đan, HUV, Phái viên Huyện ủy; Vũ Văn Đài, HUV, Chủ nhiệm HTX Thép Thượng, Bảo Đài; Giáp Văn Nhượng, HUV, Chủ nhiệm HTX Vinh Quang-Yên Sơn; Nguyễn Văn Lịch, HUV dự khuyết, Trạm trưởng Trạm ngoại thương.

[25] Được phân công như sau: Nguyễn Hữu Kỳ, Bí thư Huyện ủy; Đỗ Văn Sử, Phó Bí thư, Chủ tịch UBHC huyện; Nguyễn Văn Thuyết là Phó Bí thư là thường trực, kiêm trưởng Ban tổ chức và Tuyên huấn; Nguyễn Văn Viễn, Ủy viên thường vụ, Phó chủ tịchUBHC, Phụ trách nông nghiệp; Nguyễn Thị Khúc, Ủy viên Thường vụ, Phó chủ tịch UBHC huyện, Phụ trách tài mậu; Nguyễn Văn Tưởng, Ủy viên thường vụ, Phụ trách dân vận; Nguyễn Đức Nhàn, HUV, Phó ban Tổ chức Huyện ủy; Phạm Bá phong, HUV, Phó Ban tuyên Huấn Huyện ủy; Phạm Văn ngôi, HUV Chính trị viên Huyện đội;  Ninh Đắc Thỏa, HUV, Trưởng Công an huyện; Giáp Văn Nhượng, HUV, Phụ trách Phòng chăn nuôi; Bế Kim Toàn, HUV, Phái viên huyện ủy; Nguyễn Văn Hồng, HUV, Trưởng phòng thủy lợi; Đỗ Văn Cấn, HUV, Trưởng phòng HTX nông nghiệp; Phạm Văn Nhâm, HUV, Phái viên Huyện ủy; Nguyễn Hoàng Dương, HUV, Giám đốc lâm trường Mai Sơn; Phạm Văn Miên, HUV, chủ nhiệm HTX Vũ Xá; Vũ Văn Đài, HUV, Chủ nhiệm HTX Thép Thượng Bảo Đài; Đặng Quốc Cung, HUV, Trưởng Ban kiểm tra Huyện ủy; Dương Thị Sang, HUV, Bí thư Huyện Đoàn; Nguyễn Thị Ủn, HUV dự khuyết, Giám đốc lâm trường Lục Nam; Nguyễn Văn Hòanh, HUV dự khuyết, Đội trưởng thanh niên xung phong.

 

[26] Kể cả giáo viên trường phổ thông cấp 3 vừa học vừa làm. Năm 1973 trường có 4 lớp, 200 học sinh, 42 giáo viên. năm 1975 có 12 lớp, 500 học sinh và 50 giáo viên nam nữ.

[27] Gia đình ông Vũ Trí Nhật ở xã Đan Hội có 4 con liệt sĩ chống Mỹ là Vũ Trí Tình, Vũ Trí Năm, Vũ Trí Bốn, Vũ Trí Bộ.

[28] Kháng chiến chống Pháp có 261 liệt sĩ, kháng chiến chống Mỹ có 1.617 liệt sĩ. Bảo vệ Tổ quốc có 245 liệt sĩ, tổng số thương binh có 881, bệnh  binh.

[29] Đó là các xã Bảo Đài, được phong tặng ngày 18-11-2000; xã Bình Sơn, được phong tặng ngày 11-9-1999; xã Cương Sơn được phong tặng ngày 15-8-2003; xã Nghĩa Phương được phong tặng ngày 31-12-1973; xã Trường Sơn được phong tặng ngày 15-8-2003. Đồng chí Tô Quang lập được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, ngày 22-12-1969. Đồng chí Thân Công Khởi được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động, ngày 29-8-1985. Các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng là: Nguyễnc Thị tư, Bùi Thị Hắng, Nguyễn Thị Tin, Nguyễn Thị Thi, Nguyễn Thị Thiệp, Nguyễn Thị Chích, Hà Thị Chiện, Vũ Thị Hạ, Đào Thị Kỳ, Nguyễn Thị Tòng, Nguyễn Thị Tỵ, Nguyễn Thị Cỏn, Nguyễn Thị Quyên, Nguyễn Thị Phán, Liễu Thị Trá, Nguyễn Thị Tuế, Vi Thị Minh, Nguyễn Thị Nhớn, Nguyễn Thị Sửu, Phan Thị Gái, Nguyễn Thị Nhỡ, Vũ Thị Mít, Lưu Thị Tất, Dương Thị Chậu, Hoàng Thị Chích, Trương Thị Vui, Bùi Thị Vấn, Nguyễn Thị Suốt, Lê Thị Thoảng, Đào Thị Toan, Nguyễn Thị Vụ, Nguyễn Thị Đãng, Đào Thị Ảnh, Đỗ Thị Chắt, Nguyễn Thị Nông, Dương Thị Sáu, Nguyễn Thị Tý, Dương Thị Tưới, Nguyễn Thị Viễn.